Tìm kiếm:

Số truy cập: 11118475

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

SÁCH MỚI ĐƯỢC TẶNG

 

- Người không nhớ tôi sao (Tiểu thuyết của Tiểu Châu - NXB Lao động)

- Ly cafe tháng 12 (tản văn của Tuấn Anh, NXb Hội nhà văn)

- Chiếc nhẫn đính hôn (truyện và kí của Phạm Thành Long, NXB Thanh niên)

- Gửi người xa (thơ của Thương Giang, NXb Công an nhân dân)

- Nỗi buồn phalê (thơ của Trương Nam Chi, NXb Hội nhà văn)

- Con mang cuộc đời của mẹ (tập truyện ngắn của Nguyễn Trọng Văn, NXB Văn học)

- Hoa hồng môi nở đỏ (tập truyện ngắn của Nguyễn Trọng Văn, NXB Văn học)

- Mở lòng bàn tay để đan tay (thơ Trần Xuân An, NXB Trẻ) 

- Gió mặn (thơ Trần Huy Minh Phương, NXB Hội nhà văn)

- Cụng ly (thơ lục bát Nguyễn Minh Khiêm, NXB Hội nhà văn)

- Còn với non sông một chữ tình (kí chân dung của Trình Quang Phú, NXB Hội nhà văn)

 

Xin trân trọng cảm ơn các tác giả, các đơn vị xuất bản đã gửi tặng sách và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

Từ ngày này sang tháng khác, Linh cắm mặt vào chậu than. Nhìn hết lớp than này đến lớp than khác biến thành tro. Linh thấy mình cũng như tàn tro ấy thôi, nhưng vẫn cứ phải cố rực lên mà nhen thêm chút lửa…

(Tàn tro)

 

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Tin tức - Sự kiện- Bình luận


KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC TƯỢNG TRƯNG SIÊU THỰC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

 

 

NGUYỄN THANH TUẤN

 

CƠ SỞ HÌNH THÀNH

KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC TƯỢNG TRƯNG SIÊU THỰC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

 

          Văn chương là sự quan sát và thể hiện thế giới, con người bằng phương thức đặc biệt. Những gì nhà văn quan sát được đều “trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng thúc đẩy khả năng tưởng tượng phong phú của nhà văn bay cao, bay xa vượt qua mọi giới hạn và chắp cánh cho nghệ thuật”. Một khi tác phẩm văn học đã được “chắp cánh” thì nó nhanh chóng trở thành giá trị chung của cả nhân loại, mọi ranh giới quốc gia, lãnh thổ và ngôn ngữ…đều trở thành vô nghĩa. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở phương Tây xuất hiện một trào lưu văn học mới, trào lưu văn học theo khuynh hướng tượng trưng, siêu thực với những tác phẩm có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ ở phương Tây mà trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, để hình thành một khuynh hướng văn học ngoài các yếu tố của sự giao thoa, tác động từ bên ngoài thì nguyên nhân thiết yếu vẫn là các nhu cầu tự thân của chính mỗi nền văn học. Một khuynh hướng văn học mới, chỉ có thể được hình thành khi có sự hội tụ đầy đủ tất cả các yếu tố chủ quan và khách quan. Khuynh hướng sáng tác tượng trưng, siêu thực được hình thành và phát  triển ngày càng rõ nét trong văn học Việt Nam hiện đại được hình thành trên các cơ sở cơ bản sau:

 

1. Xu hướng thẩm mỹ mới được hình thành ở phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

 

          Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tư duy phân tích và tư duy duy lý bộc lộ nhiều bất cập. Chúng không thể giải thích, thể hiện được phần tiềm thức, vô thức, bí ẩn của những giấc mơ và thế giới tâm linh ẩn sâu trong tâm hồn con người. Lúc này xuất hiện xu hướng quay trở về với đời sống tự nhiên, bột phát về cảm xúc, hành động…nên những phương pháp duy lý bị phủ nhận mạnh mẽ: “Không thể dùng tam đoạn luận để rút tỉa linh hồn của sự vật, cũng như không thể dùng câu liêm để kéo con quỷ Lévithan trong thánh kinh”. Đồng thời phát hiện ra: “Cuộc sống của chúng ta thật nhiệm màu nó tránh xa phản ánh của lý trí… Nó bị lôi cuốn bởi cái huyền bí và nó chống lại sự an bài của phép tắc ngoại hiện”(Albérès, Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học châu Âu thế kỷ XX) . Điều này, dẫn con người đến sự khủng hoảng tinh thần cực độ. Những bí ẩn của tạo vật, của con người và cuộc sống mà tư duy duy lý không thể giải thích được được mặc sức khám phá và thể hiện bằng một trào lưu tư tưởng hoàn toàn mới. Bắt đầu từ những thứ đã biết rất rõ ràng dần dần đi vào khám phá một thế giới hoàn toàn bí ẩn mơ hồ nằm sâu bên trong bằng một phương pháp tư duy mới. Chủ nghĩa tượng trưng hình thành cuối thế kỷ XIX và sau này là chủ nghĩa siêu thực hình thành vào đầu thế kỷ XX bắt nguồn từ cơ sở tư tưởng này.

 

          Ngày 18/09/1886, Jean Moeas - Một nhà thơ tượng trưng tiêu biểu đã viết Tuyên ngôn thơ tượng trưng (Manifeste du symboliste) với đại ý như sau: “Phải chống lại sự dạy đời, sự huênh hoang lớn tiếng/ Chống lại thương cảm giả dối, sự miêu tả khách quan/ Thơ tượng trưng gắng gói gém ý tưởng bằng một hình thức dễ nhìn hơn/ Tuy nhiên nó không phải là mục đích thơ/ Nhưng dùng nó để phơi bày ý tưởng mà vẫn giữ được nội dung cơ bản”. Bằng bản tuyên ngôn này, ông đã khai sinh ra “một thời đại mới trong thơ ca” với những mạch, những trường cảm xúc hoàn toàn mới, ngôn ngữ thể hiện cũng đầy mới mẻ và lạ lẫm. Cách nắm bắt và cách thể hiện đời sống và tâm hồn phức tạp của con người hiện đại cũng hoàn toàn mới mẻ. Chủ nghĩa tượng trưng ra đời ở Pháp, rồi nhanh chóng lan rộng ra toàn châu Âu và cuối cùng là trên khắp thế giới có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ trong văn chương mà ảnh hưởng đến hầu hết các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội họa, sân khấu… với những đặc điểm nổi bật:

 

          Khám phá thế giới bí ẩn trở thành mục đích và bản chất của thơ tượng trưng. Các nhà thơ tượng trưng tin tưởng vào thế giới tinh thần đầy bí ẩn, nằm sâu trong lòng sự vật, trong mỗi con người. Niềm tin này có cơ sở từ thuyết Thần học của Đức, một học thuyết chủ trương rằng: “Thế giới hữu hình là hình ảnh của một thế giới vô hình… Ở hai thế giới đó có những điều tương ứng. Người thụ pháp là người nhận biết được sự tương ứng đó và nếu cần thì nhờ đó mà có những quyền lực thiêng liêng”. Các nhà thơ tượng trưng quyết liệt lên án lối thơ chỉ mô tả sự vật một cách đơn giản, hời hợt bên ngoài của chủ nghĩa lãng mạn, hiện thực, đặc biệt là lối thơ to tiếng, lên gân dạy đời. Thơ phải hướng tới một thế giới huyền diệu và nhiệm màu, phải khám phá và thể hiện được những gì nằm ẩn sâu dưới cái vỏ hiện thực và đem lại cho thế giới tâm hồn một sức mạnh đặc biệt do phát hiện ra những bản chất mới bằng những loại suy bất ngờ trong sự tương hợp của tất cả các cảm giác trong đó có vai trò quan trọng của trực giác. Mọi vật trong vũ trụ và con người có mối liên hệ huyền bí, mơ hồ không thể nhận biết bằng tư duy duy lý: “Thiên nhiên là những ngôi đền mà những cột trụ sống động/ Đôi khi thốt ra những ngôn từ lộn xộn/ Con người đi ngang, xuyên qua những khu rừng biểu tượng/ Vẫn quan sát mình bằng cặp mắt thân quen/ Như những tiếng vang vọng dài từ phía xa hòa lẫn/ Giữa cảnh bao trùm tăm tối thẳm sâu/ Mênh mông như đêm đen và như ánh sáng/ Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau”(Tương hợp - Baudelaire). Thế giới là một thể thống nhất, thẳm sâu đầy huyền bí, thiêng liêng và vô cùng vô tận mà chỉ thi nhân mới có khả năng phát hiện ra những tương quan huyền nhiệm nằm sâu thẳm bên trong nó.

 

          Đặc điểm thứ hai là tư duy tương hợp giữa các giác quan. Trên cơ sở của những phát hiện về sự tương ứng giữa thế giới hữu hình và vô hình thì thơ tượng trưng gắn liền với lối tư duy tương hợp và cũng chính Baudelaire là người đầu tiên phát hiện ra sự tương hợp giữa các giác- quan. Thế giới không phải là những cái quan sát được bằng thị giác, thính giác, hay vị giác… mà là phần linh diệu và huyền nhiệm mà con người nắm bắt được bằng sự tương hợp của tất cả các giác quan. Tất cả những điều ấy tư duy duy lý không bao giờ nắm bắt nổi. Điều này khiến cho không gian trong thơ tượng trưng được mở rộng về mọi phía và chiếm lĩnh đến vô tận vô cùng của tâm thức, tiềm thức, vô thức, những bí ẩn, huyền nhiệm, vi tế của con người và thế giới. “Có những mùi hương tươi tắn như thịt da trẻ nhỏ/ Dịu dàng như tiếng kèn ô-boa, xanh rờn như đồng cỏ/  Và những mùi hương khác, đã biến chất, hân hoan, phong phú/ Mang tính bành trướng của những thứ vô biên/ Như long diên hương, xạ hương, an tức hương và nhựa hương/ Đang ca ngợi những cảm rung của giác quan và trí tuệ” (Tương hợp - Baudelaire). Tất cả mọi thứ và thẳm sâu tâm hồn con người hòa quyện, tương hợp với nhau thành một thế giới thống nhất thông qua sự cảm nhận tổng hợp của tất cả các giác quan. Hương thơm được cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, khứu giác, thính giác… và đặc biệt là luôn có sự tham gia của linh giác.

 

          Tạo ra nhiều biểu tượng ẩn ý. “Khác với sự tượng trưng truyền thống, theo đó một hình ảnh cụ thể (thí dụ như con chim bồ câu) gợi nên một ý nghĩa trừu tượng được xác định rõ ràng (hòa bình), đối với các nhà văn theo chủ nghĩa tượng trưng, ý tưởng được gợi nên bởi sự tượng trưng hoàn toàn không tồn tại trong chính ý tưởng đó; nó được nảy sinh từ sự xích lại gần nhau của những cảm giác và những thực tế cụ thể thường là tách biệt với nhau. Vì thế sự tượng trưng cho phép tạo dựng nên thế giới những ý tưởng mang lại một trật tự mới trong đó không còn những đối nghịch nữa” (C. Đơ li-nhi, M. Rut-xơ-lô, Văn học Pháp, Nxb Giáo dục, 1998 (Trịnh Thu Hồng, Đỗ Phương Mai dịch). Khi sáng tạo các biểu tượng, nhà thơ tượng trưng không thể chỉ dùng óc quan sát hay lý trí để nhận thức mà nhất thiết phải dùng linh cảm và khả năng trực giác siêu việt của mình vì “chỉ có sự gì cảm thấy mà không tả mới là đáng kể mà thôi”. “Ý nghĩa của sự tượng trưng không rõ ràng nhưng gợi mở, từ đó xuất hiện một sự mơ hồ nhất định; tính mơ hồ lại càng lớn khi những sự tương ứng không được thiết lập xuất phát từ một từ đến một ý tưởng, mà từ một tập hợp các từ tới một mạng lưới các ý tưởng” (C. Đơ li-nhi, M. Rut-xơ-lô, Văn học Pháp, Nxb Giáo dục, 1998 (Trịnh Thu Hồng, Đỗ Phương Mai dịch).

 

          Chủ nghĩa tượng trưng luôn đề cao nhạc tính vì thơ là sự tái hiện những nhịp điệu, những tương ứng, sự hòa âm của vạn vật và tâm hồn con người tạo thành một thế giới thống nhất về âm thanh. Phải công nhận rằng bất kỳ khuynh hướng sáng tác nào cũng luôn đề cao tính nhạc trong thơ nhưng có lẽ trong lịch sử chưa có trào lưu văn học nghệ thuật nào lại đặc biệt đề cao nhạc tính và thực hiện tính chất này một cách có ý thức và triệt để đến thế. Âm nhạc trong thơ có những khả năng rất riêng biệt, nó có len lõi vào mọi ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn con người để đến với cả những phút giây tiềm thức, vô thức và những giấc mơ bí ẩn. Nó nâng đôi cánh thơ đập mạnh tạo ra lực đẩy vô biên giúp cho thơ ca bay cao, bay xa và đến với những chân trời vô tận của những ý tưởng nghệ thuật huyền nhiệm vô biên.

 

          Như thế “Thơ vừa là nhạc, là họa, là tạc tượng, là hùng biện, thơ phải làm vui tai thích chí, tỏ rõ được âm thanh, bắt chước được màu sắc, khiến cho trông thấy mọi vật và kích thích ở ta những rung động… Thơ là nghệ thuật hoàn hảo, cần thiết và bao hàm các nghệ thuật khác” (Théodore de Banville).

 

          Chủ nghĩa siêu thực là một khuynh hướng văn học nảy sinh vào đầu thế kỷ XX ở Pháp trên cơ sở thuyết phân tâm học của Freud và thuyết trực giác của Bergson. Năm 1924, sau khi đã công nhận Tri-xtăng Tza-ra là một nhà tiên tri, Ăng-đrê Brơ-Tông (1896-1966) cho ra đời Bản tuyên ngôn đầu tiên của chủ nghĩa siêu thực (Premier Manifeste du Surréalisme). Ông tuyên bố: “Sự tự động tâm thần thuần khiết qua đó người ta dự định diễn đạt hoặc bằng ngôn ngữ, hoặc bằng tác phẩm, hoặc bằng bất kỳ một cách nào khác, sự vận hành thực sự của tư duy”. Phần còn lại của bản tuyên ngôn mở rộng định nghĩa trên. Brơ-tông lên án lí trí và văn hóa, ca tụng sức mạnh trọn vẹn của thế giới tưởng tượng và mơ mộng như là một phương thức hiểu biết. Chủ nghĩa siêu thực dựa trên sự tin tưởng vào tính tự động hoàn toàn của ngôn ngữ được vô thức đọc cho và mục đích của nó là tạo ra hiệu lực.

 

Sau bản tuyên ngôn thứ nhất này, có các bản tuyên ngôn khác vào năm 1938 và 1942, được nhiều nghệ sĩ ký, làm cho định nghĩa đó trở nên tinh tế hơn theo cùng sự phát triển văn học của trào lưu này” (C. Đơ li-nhi, M. Rut-xơ-lô, Văn học Pháp, Nxb Giáo dục, 1998 (Trịnh Thu Hồng, Đỗ Phương Mai dịch). Chủ nghĩa siêu thực tạo ra lối viết tự động. Viết như chép chính tả những câu do vô thức tạo ra. Kết quả của hình thức viết này tạo ra sức mạnh để tiếp cận một cách ngẫu nhiên những hiện thực mà tính logic hoàn toàn bất lực, không bao giờ có thể liên kết lại được. Chính nó cũng tạo ra loại thơ không có chủ ý từ những kinh nghiệm tự động này. Người nghệ sĩ sáng tác dựa vào những kinh nghiệm của những biểu hiện vô thức như ảo giác, giấc mơ, sự mê sảng, hồi ức thơ ấu, hình ảnh, biểu tượng thần bí…bằng tất cả những gì có thể tiếp nhận bằng tất cả các giác quan mà nhà thơ có thể thâm nhập vào phía sâu thẳm của con người dựa trên thủ pháp của sự tương tự, sự bất ngờ, cái nghịch lý, sự tương liên của những cái vô cùng phi lý tưởng không bao giờ có thể tồn tại gần nhau.

 

          Các nhà siêu thực chủ trương đề xuất một cách nhìn, cách cảm và cách thể hiện hoàn toàn trái ngược với tất cả những phương cách đã có trước đó. Họ giải thể lối viết cũ, tạo ra cấu trúc mới, cấu trúc nổi hay cấu trúc âm thanh, tiến vào cấu trúc không gian khiến cho tất cả các trật tự ngữ pháp trước đó bị đảo lộn hoàn toàn và cắt chữ phân câu theo một trật tự mới của quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn. Nếu theo tư duy thông thường thì tất cả những hình ảnh, biểu tượng, thời gian, không gian trong thơ siêu thực trở nên vô cùng huyền ảo và phi lý gây ngạc nhiên, thậm chí là những cú sốc mạnh với người đọc. Tuy vậy nếu người đọc “có năng lực cảm thụ” sẽ thấy đằng sau những sáng tạo phi lý ấy là sự nỗ lực và năng lực đặc biệt của các nhà siêu thực vì họ đã phản ánh được thực tại ở chiều sâu, ở những ẩn dấu thăm thẳm trong lòng sự vật. Với chủ nghĩa siêu thực, lần đầu tiên địa hạt của cái đẹp được mở rộng biên độ về mọi phía. Cái đẹp không chỉ đơn thuần là cái có ích, cái hiền lành thánh thiện… mà còn là cái rùng rợn, khủng khiếp…

 

          Với những đặc điểm nổi bật như trên, chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt ở Pháp, ở phương Tây mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Nó cũng có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với nền văn học hiện đại Việt Nam.

 

2. Sự gặp gỡ giữa văn học hiện đại Việt Nam và chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực.

 

          Vào đầu thế kỷ XX, văn hóa và văn học Pháp du nhập vào Việt Nam một cách rầm rộ và rộng khắp. Trong đó đặc biệt là sự hấp dẫn lạ thường của thơ tượng trưng, siêu thực. Giữa lúc ấy văn học Việt Nam xuất hiện nhu cầu đổi mới một cách cấp thiết. Đổi mới trở thành nhu cầu nội tại hàng đầu trong sự tiếp xúc giữa thơ mới Việt Nam với văn học phương Tây đặc biệt là văn học pháp.

 

          Các nhà thơ Việt Nam hiện đại và các nhà thơ tượng trưng Pháp gặp gỡ nhau ở một điểm là cùng sống trong một xã hội không như ý. Một xã hội đầy dẫy những cái vô nghĩa vô lý và ngây thơ hời hợt đến nực cười. Trước thực tại xã hội đó các nhà thơ hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX phản ứng một cách kịch liệt. Chế Lan Viên nhất thiết đoạn tuyệt với cuộc sống trần thế: “Tạo hóa hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc/ Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian/ Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt/ Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn/ Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh/ Những ưu phiền đau khổ với buồn lo”. Trần gian toàn những cảnh chướng tai, gai mắt… đến mức người thơ phải chạy trốn, phải tìm đến với “tinh cầu giá lạnh”, đến với “vì sao trơ trọi cuối trời xa”. Xuân Diệu thấy lạc lõng bơ vơ, cô đơn như chỉ có một trên đời: “Ta như con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hót chơi”. Cũng giống như các nhà thơ tượng trưng phương tây trước sự bất lực và hoàn toàn đổ vỡ của tư duy duy lý họ phản ứng mạnh mẽ nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn và thứ văn học lên tiếng dạy đời. Họ kêu gọi đổi mới, đổi mới ngay lập tức, đổi mới là phương thức duy nhất và cuối cùng để tồn tại, “Đổi mới hay là chết”.

 

          Sự gặp gỡ về tâm trạng, khát vọng, sự tương đồng về hoàn cảnh và đời sống tâm lý giữa các nhà thơ tượng trưng và các nhà thơ hiện đại Việt Nam dẫn đến: “Trường phái thơ tượng trưng, siêu thực được người ta chú ý hơn cả… Cái chính vẫn là sự gặp nhau của những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội đau buồn, chán nản, u uất khi phong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ dội” (Phan Cự Đệ). Sự gặp gỡ này là tiền đề quan trọng góp phần hình thành khuynh hướng sáng tác tượng trưng, siêu thực trong văn học hiện đại Việt Nam.

 

3. Truyền thống văn hóa, kinh nghiệm thẩm mỹ, ngôn ngữ phương Đông và Việt Nam

          Sự tương đồng từ trong sâu xa truyền thống văn hóa phương Đông và Việt Nam với quan điểm của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực là cầu nối cho khuynh hướng sáng tác tượng trưng, siêu thực trong văn học hiện đại Việt Nam. Người phương Đông quan niệm “Thiên địa nhân hợp nhất”, “vạn vật nhất thể”. Trời đất, vạn vật và con người đều có chung một nguồn gốc giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Mối quan hệ đó có thể được thể hiện qua những giấc mơ, qua vùng tâm linh, miền vô thức và đặc biệt là qua khả năng ngoại cảm của con người. Quan niệm này gần gũi với quan điểm mọi vật và con người có mối quan hệ bí ẩn với nhau nằm trong phần sâu thẳm của sự vật. Chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực còn phát hiện ra một phần rất lớn của con người là vô thức, tiềm thức và bí ẩn của những giấc mơ, thơ ca có nhiệm vụ phải thể hiện được và cũng chỉ có thơ ca mới thể hiện được những bí ẩn nằm sâu trong sự vật và thế giới bí ẩn của tâm hồn con người ấy thôi. “Cái gì ngôn ngữ không thể diễn tả nổi đó là thơ ca” (R. M. Alberès). Sự chùng khớp sâu xa gữa kinh nghiệm văn hóa của chủ thể tiếp nhận với những đặc điểm của đối tượng tiếp nhận là phát hiện ra sự tương hợp giữa các giác quan, sự ngân vang và du dương của nhạc điệu và đặc biệt là sự nhịp nhàng của nhịp điệu. Đây là nhịp vỗ tay, nhịp dậm chân của cư dân làm nông nghiệp phương Đông nói chung và cư dân trồng lúa nước Việt Nam nói riêng.

 

          Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn âm tiết, được đặc trưng bằng thanh điệu nên giàu nhạc tính và sắc thái biểu cảm có khả năng gợi mở cao là một lợi thế vô cùng lớn cho sự hình thành xu hướng thơ tượng trưng, siêu thực. Điều này giúp diễn tả những sắc thái tinh vi và tế nhị của sâu thẳm tâm hồn con người. “Ngôn từ được phổ vào âm nhạc gọi là thi, âm thanh, giai điệu của thi ca khi được hát lên tức là bài ca” (Văn tâm điêu long- Lưu Hiệp). Điều này tạo ra đặc điểm “Thi trung hữu nhạc” một tiêu chí của thơ tượng trưng. Người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng không có truyền thống tư duy logic, tư duy duy lý mà là tư duy hình tượng. Tất cả mọi vấn đề đều được nhận thức, xử lý bằng hình tượng hoặc hệ thống các hình tượng. Đây là điểm phù hợp tuyệt diệu với tư duy thơ tượng trưng, siêu thực.

 

          Trở lên trên là ba cơ sở cần và đủ, trong đó có cả cơ sở chủ quan và khách quan tạo nên khuynh hướng sáng tác tượng trưng, siêu thực trong văn học hiện đại Việt Nam với các sáng tác độc đáo đậm màu sắc khuynh hướng này của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh…

 

 

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.     Trương Đăng Dung, Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Xã hôi, Hà Nội, 2004

2.     Trương Đăng Dung, Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học xã hôi, Hà Nội, 1998

3.     Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, Nxb Lao động - Trung        tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

4.     C. Đơ li-nhi, M. Rut-xơ-lô (1998), Văn học Pháp, Trịnh Thu Hồng - Đỗ Phương Mai dịch, Nxb Giáo dục

5. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

6. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Tinh hoa thơ mới phẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục

7. Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ

8. Mai Bá Ấn, Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng, Wedside Bichkhe.org

9. Trần Thị Thu Hà, Tư duy nghệ thuật thơ Bích Khê – nhìn từ các cấp độ hình tượng thơ, Wedside Bichkhe.org

10. Trần Thế Nhân, Nhìn nhận yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ mới, Wedside Bichkhe.org

11.  Nguyễn Thanh Tuấn, Có hay không tính chất lưỡng trị trong thơ thiên nhiên hiện đại, Báo Giáo dục & Thời đại, số 65, ngày 29/05/2004.

12. Nguyễn Thanh Tuấn, Mọi tác phẩm văn học đều dang dở, Tạp chí Non Nước, Số 156 (04/2010)

13. Nguyễn Thanh Tuấn, Quan niệm về văn bản và tác phẩm văn học dưới ánh sáng mới của khoa học nghiên cứu văn học, Tạp chí Khoa học & Sáng tạo, số 86 + 87, ra tháng 03 + 04 năm 2010    

                                                                               

 

 

 

Phongdiep.net  

 

 

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Tin tức - Sự kiện- Bình luận ::
  •   Sách, và những điều lan man khác
  •   'Đà Linh - Trí thức dấn thân' - sách về người làm sách
  •   Nữ dịch giả người Thái Lan Montira Rato: Văn học Việt như một khu vườn kỳ bí
  •   “Búp sen xanh” thời khốn khó
  •   ​Nhà văn bán sách, tại sao không?
  •   ​“Nhập tiệc” truyện tranh
  •   ​Trao giải sách hay cho cuốn sách tái bản cẩu thả
  •   Báo chí tắc tị, PR lên ngôi
  •   HỘI THẢO TIỂU THUYẾT “THÀNH PHỐ BỊ KẾT ÁN BIẾN MẤT” CỦA TRẦN TRỌNG VŨ
  •   Lục bát di động
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net