Tìm kiếm:

Số truy cập: 12174382

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

SÁCH MỚI ĐƯỢC TẶNG

 

- Pơ thi (tiểu thuyết của Thu Loan - NXB Đà Năng 2014)

- Thuận chưa hẳn đã lợi (Phạm Khải - cẩm nang dành cho nhà báo trẻ)

- Hạt mầm trót vay (Tập truyện ngắn Trạch An Trần Hữu Hội)

- Tiêu gì cho thời gian để sống (Tản văn của Hoàng Việt Hằng- NXB Trẻ)

- Mưa dắt ngang chiều (thơ Lâm Bằng, NXB Hội nhà văn)

- Nổi sóng (thơ Vi Quốc Hiệp, NXB Hội nhà văn)

- Người không nhớ tôi sao (Tiểu thuyết của Tiểu Châu - NXB Lao động)

- Ly cafe tháng 12 (tản văn của Tuấn Anh, NXb Hội nhà văn)

- Chiếc nhẫn đính hôn (truyện và kí của Phạm Thành Long, NXB Thanh niên)

- Gửi người xa (thơ của Thương Giang, NXb Công an nhân dân)

- Nỗi buồn phalê (thơ của Trương Nam Chi, NXb Hội nhà văn)

 

Xin trân trọng cảm ơn các tác giả, các đơn vị xuất bản đã gửi tặng sách và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

Từ ngày này sang tháng khác, Linh cắm mặt vào chậu than. Nhìn hết lớp than này đến lớp than khác biến thành tro. Linh thấy mình cũng như tàn tro ấy thôi, nhưng vẫn cứ phải cố rực lên mà nhen thêm chút lửa…

(Tàn tro)

 

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Tác phẩm - Dư luận


Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong trường ca Thanh Thảo

 

Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật trong trường ca Thanh Thảo

 

 


-TS Mai Bá Ấn


1. Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hai khái niệm của Thi pháp học
hiện đại. Không gian trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật, là hình thức tồn tại
của thế giới nghệ thuật, vì không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian,
không có nhân vật nào không có một nền cảnh của nó. Không gian nghệ thuật là hình
tượng không gian có tính chủ quan và tượng trưng, là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ
nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Nó biểu
hiện mô hình thế giới của con người, là quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn
của con người. Thời gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật, là thời gian có thể thể
nghiệm được trong tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều
thời gian là hiện tại, quá khứ, tương lai. Thời gian nghệ thuật cũng là một hình tượng
nghệ thuật - sản phẩm sáng tạo của nhà văn. Đây là một trong những phạm trù quan
trọng nhất của thi pháp học bởi lẽ nó thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật làm nên
phong cách nhà văn. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin phép không bàn nhiều
đến khái niệm rất phong phú của chúng, chỉ xin chọn ba cặp không gian - thời gian nổi
bật có tần suất xuất hiện đậm đặc trong Trường ca Thanh Thảo (nhằm phù hợp với cấu
trúc và tư duy thơ theo phong cách riêng anh). Ở đây, cặp thứ ba được xem như là sự
mở rộng của cặp thứ hai, nhưng do sự xuất hiện nhiều và tương đối độc lập của chúng
nên chúng tôi tách ra nhằm tìm đến sự đa dạng, phong phú trong cách nhìn không gian,
thời gian của Thanh Thảo.


Không gian mở rộng - Thời gian cô đặc


Như một quy luật tất yếu, trong một tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm thơ,
hễ cứ không gian nghệ thuật càng mở rộng bao nhiêu thì thời gian nghệ thuật lại càng
cô đúc bấy nhiêu. Khác với văn xuôi, không gian nghệ thuật của thơ có thể mở đến tận
cùng theo cảm xúc, tưởng tượng và tư duy của nhân vật trữ tình. Trong khi đó, để đảm
bảo dung lượng cho một tác phẩm thơ, thời gian nghệ thuật trong thơ có thể được gom
về, cô đặc lại để làm nền cho cảm xúc mãnh liệt trào dâng. Chính Thanh Thảo đã quan
niệm: “Sáng tạo là chấp nhận sự mất đi của những thời gian đằng đẵng để đổi lấy cái
chớp mắt của những thời gian cô đặc” [13,tr.55]. Với quan niệm như vậy về không gian
và thời gian nghệ thuật, Trường ca Thanh Thảo được kết cấu rất mở về không gian
nhưng thời gian nghệ thuật thì được kìm nén lại cả trên phương diện cấu trúc câu thơ,
đoạn thơ, cả trên bình diện chương, mục, và đặc biệt là anh ứng dụng tính quy luật của
cặp không gian, thời gian này để làm cơ sở cho cấu trúc cả hai Trường ca. Đêm trên cát
là câu chuyện trong một đêm trên bãi cát sông Trà (Quảng Ngãi) về cả một giai đoạn

lịch sử qua nỗi niềm Cao Bá Quát. Trò chuyện với nhân vật của mình là câu chuyện đời,
chuyện văn của cụ Đồ Chiểu gom lại cũng chỉ trong “một đêm ở vùng đồng bằng sông
Cửu Long” với lời tâm sự từ chính cuộc đời mình với tất cả những nhân vật trong cả
đời văn của mình. Đêm trên cát, chỉ là tâm trạng của một đêm mà không gian nghệ thuật
thì được mở đến mênh mông, từ bãi cát sông Trà đến triều đình Huế, từ gốc gạo quê
nhà làng Phú Thị đến cả rừng núi Mỹ Lương, mở vô biên đến cả không gian cổ xưa
thời Đỗ Phủ hàn vi bên đất nước Trung Hoa xa xôi đang “ôm mặt khóc cả đất trời sầm
tối”:


“thì cứ đi cứ đi và đi mãi
như nước kia chảy không bến không bờ”
vì: “ta đã ném câu thơ mình vào thác xiết” [5,tr.66].


Đó là một không gian vô bờ bến mà “dòng thác xiết” cảm xúc thơ tuôn ra đến vô
tận trong một thời gian ngắn ngủi. Không gian nghệ thuật được ngôn ngữ thơ “xuyên
thủng bức tường Ngọ Môn” phóng tâm tư về muôn hướng:


“hãy xuyên thủng bức tường
bằng ngôn ngữ
hãy chế ngự thời gian
bằng lặng lẽ” [5,tr.67].


Rõ ràng, ngôn ngữ thơ tuôn chảy muôn nơi mà thời gian thì được “chế ngự”
đến tận cùng. Tương tự như thế, “một đêm” của cụ Đồ Chiểu cũng là sự tích nén thời
gian đến cô đặc “lặng lẽ” mà không gian thơ thì mở đến mênh mông. Mở đến tương
lai: “bao giờ trời đất an ngôi cũ chắc rồi sẽ có thanh bình” [8,tr.7]. Mở về quá khứ với
không gian quê nhà nơi góc vườn có cây khế nở hoa: “Cây khế bừng nở hoa trong trí
nhớ hương thơm nào tuổi nhỏ thuở ta còn mẹ”. Mở đến cả không gian mà ở đó các nhân
vật trong truyện Lục Vân Tiên từng đã sống, đã nghĩ suy và hành động. Mở đến cả quê
nhà Quảng Ngãi của người anh hùng Trương Định. Đó còn là không gian phường phố
Đà Nẵng mà chàng sĩ tử mù lưu lại trên đường về thọ tang mẹ với rộn ràng âm thanh
phố, và không gian Nam bộ mênh mông sông nước, cỏ cây của “những Vân Tiên có thật
ngoài đời” [8,tr.14]. Đặc biệt là không gian huyền ảo của những “hồn oan” mở rộng
đến cả “cõi âm” và “cõi trần”, mà lúc ấy, “nhà thơ thành chiếc cầu thông hai cõi”:
“ta nghe mái chèo âm binh khua dưới đáy vực như thấy đốm lửa hồn oan bay
sáng rực ngoài đồng hơi lạnh cõi âm và hơi nóng cõi trần hòa hợp lúc ấy ta như kẻ nhập
thần nói lên tiếng nói người đã khuất” [8,tr.26].


Tự thả mình vào không gian mở bao la, Thanh Thảo qua lời “trò chuyện” của cụ
Đồ (sống cách mình 120 năm) đã gom hết thời gian về, cô đặc lại trong một đêm mà
trút hết bao nhiêu chuyện đời, bao nhiêu số phận:

“có hề chi một trăm hai mươi năm
những khoảng cách trở nên vô nghĩa” [3,tr.41].


Đó là cách nhìn tổng thể ở phạm vi tác phẩm. Còn ở phạm vi câu, đoạn; cặp
không gian - thời gian nghệ thuật này cũng được Thanh Thảo sử dụng như là một
quan niệm nghệ thuật rõ ràng: từ không gian cát bụi với “bước thụt bước lùi” của
người “mang gông đi tới” bỗng vút lên tận trời như một oan khiên:
“ném gông dài làm chiếc thang mây
cười dội tới những tầng cao chất ngất” [5,tr.69].
Đó cũng chính là chí khí lồng lộng của Cao Chu Thần. Ở đoạn thơ này, thời gian như
quánh lại, như hốt hoảng trong khi không gian thơ lia đến bao la gió, cát, biển , trời:


“gió
cát
quay cuồng
xốc áo đứng lên
bầy cá nược đua theo thuyền
trăng bầm đỏ
mặt biển bừng cơn ác mộng
con quái vật lừ lừ phun khói
đang bò về phương Đông” [5,tr.71].


Cái thời gian nén lại đến ngột hơi trong khu dồn dân lại chứa đựng bên trong
một ngòi nổ hàm chứa một dự báo: tiếng nổ sẽ rung chuyển cả không gian mênh mông:


“đêm lạnh ngắt khu dồn
đêm nén lại phập phồng chờ tiếng nổ
những ngôi nhà sẽ bung khắp đồng bưng hơn rất nhiều phép lạ” [1,tr.45].
Còn đây là “quãng lặng” thời gian như một dấu lặng đơn “trong bản nhạc”. Tích
tắc “lặng đơn” ấy thôi mà không gian thơ mở đến bao la:
“Tôi đã qua nhiều quãng lặng im
như khoảng lặng kéo dài trong bản nhạc
lúc các anh thể hiện đời mình
trên ngọn sóng những phiếm đàn biển cả
trong âm vang mơ hồ của đá
cánh tay quăng tia chớp về trời” [3,tr.40].


Rồi cứ mải mê ngồi xoay khối ru - bích trên tay như một trò đùa trong một tích
tắc, mà khi xoay, khối ru - bích vuông lại chuyển hóa thành vòng tròn, hiện ra không
gian mở đến toàn thế giới, và quá khứ, hiện tại, tương lai hầu như cùng cô đặc lại ở:
“chiều thứ tư của rubic: thời gian trong tiềm thức... Những giấc mơ đầy màu sắc

biến ảo. Quá khứ, hiện tại, tương lai cùng nổi lên trên một bề mặt. Lúc đó, thời gian như
không tồn tại nữa” [6,tr.11-12].


Có thể nói rằng không gian mở rộng và thời gian cô đặc là quan niệm nghệ
thuật quán xuyến trong toàn bộ Trường ca Thanh Thảo. Trong đó, ta có thể dễ dàng
nhận ra, trong thời gian cô đặc ấy, không gian nghệ thuật mở rộng khá phổ biến và có
tần suất xuất hiện cao nhất trong Trường ca Thanh Thảo chính là không gian trời xanh -
nơi phát ra những tia chớp đỏ, không gian rừng núi - nơi phát ra những đám cháy, không
gian đồng bằng với những dấu chân, lối mòn, con đường - nơi tồn tại vĩnh cửu của cỏ
xanh, và không gian biển - nơi của những ngọn sóng, của gió và cát. Tất cả đó đã làm
nên một phong cách Thanh Thảo khá rõ nét qua Trường ca.


Không gian chuyển hóa - Thời gian đa tuyến


Sự chuyển hóa của không gian là một quy luật tất yếu, tuy nhiên, không gian
nghệ thuật không hẳn chuyển hóa theo quy luật tự nhiên mà chủ yếu là chuyển hóa
theo quy luật của tư duy nghệ thuật và cảm xúc của chủ thể sáng tạo. Sự chuyển hóa
liên tục của không gian kéo theo sự chuyển tuyến của thời gian nghệ thuật, và vì thế
tạo nên thời gian đa tuyến. Đây cũng là cặp phạm trù nghệ thuật gắn liền nhau, đặc
biệt là trong văn học hiện đại. Nếu không gian nghệ thuật của văn học trung đại là
không gian rộng, mang tính hoàn chỉnh thì không gian của văn học hiện đại là không
gian hẹp, bị chia cắt ra từng mảng, không hoàn chỉnh. Thời gian nghệ thuật của văn
học trung đại là thời gian “cầu tính”, còn thời gian nghệ thuật trong văn học hiện đại là
thời gian “tuyến tính”. Chính cái không gian từng mảng ấy mà thơ hiện đại đòi hỏi sự
chuyển hóa nhanh để nối mảng khi phản ánh. Cũng chính cái tuyến tính của thời gian
nghệ thuật mà thơ hiện đại Việt Nam cần đến sự đa tuyến. Thanh Thảo là nhà thơ có
tư duy thơ khá lạ theo lối thơ hiện đại với những “khoảng mờ nhòe” và những “bước
nhảy thơ” tạo nên những khoảng lặng bí ẩn. Và vì vậy, thơ anh luôn có sự chuyển đổi
liên tục về không gian và sự đa tuyến của thời gian:


“người du kích của hai thời kháng chiến
nói với anh về vụ rẫy mùa mưa
...con Sáu giao liên bơi xuồng dạo đó
lấy chồng bên sông cũng đã mấy con rồi” [1,tr.25].
Quá khứ, hiện tại, tương lai đan cài nhau, khiến không gian chuyển hóa liên tục:
“lúc ấy đã gần trưa
chúng tôi lùa hơn hai trăm người đến bên mương cạn...
tôi đã siết cò
bây giờ tôi sống ở Phi - la - đen - phi - a” [2,tr.16].


Đêm mưa ngột ngạt ở khu dồn, rồi buổi sáng trên đồng hoang với những túp lều

xiêu vẹo, rồi dưới căn hầm với một cái cuốc một con dao của quá khứ ông bà để lại, rồi
trải rộng ra với ngọn gió, thu lại với nồi khoai, và vươn cao đến cả không gian trời cùng
những ánh sao:
“nơi đêm đêm các con hay về cùng ngọn gió
mẹ nấu nồi khoai chờ mấy đứa ăn
dưới ánh sao” [2,tr.27-28].
Gương mặt từ bóng đêm quá khứ chợt hiện về bên hàng cau, chim chăn vịt kêu
trong chiều gợi chuyển về cả không gian thời gian quá khứ trên cánh đồng lụt tháng
mười:


“gương mặt người thân
trộn vào bóng đêm đặc quánh
chợt hiện dưới hàng cau lóe sáng
buổi chiều
chim chăn vịt kêu
nhớ bạn nghèo thuở nhỏ” [4,tr.6-7].
Cứ thế, không gian chuyển hóa khôn lường và thời gian lúc chậm “ủ ngọn lửa
qua mùa mưa”, lúc lại trôi đi vùn vụt, rồi lại chậm chạp như “nhất nhật tại tù thiên thu
tại ngoại” (Hồ Chí Minh), lại chuyển từ nhà tù ra thế giới với bức thư của Nguyễn Ái
Quốc từ “ngoài kia” rồi bức thư truyền lửa trùm lên cả rừng núi Ba Tơ để “những cánh
rừng đứng dậy”:


“ủ ngọn lửa qua mùa mưa bấc
bỗng thấy thời gian trôi vùn vụt
cái thời gian chậm chạp của người tù
ngoài kia thư Nguyễn Ái Quốc đã về
... những cánh rừng đứng dậy” [4,tr.15-16].
Thời gian “đang sương sớm” bỗng chuyển sang “phía mặt trời” rồi chuyển sang
không xác định “bao giờ” tràn đến tương lai “sẽ đến lúc”, lại kéo về đêm, rồi lan đến vô
tận. Và theo đó, không gian cũng chuyển hóa đến bất ngờ:


“hoa gạo trong sương sớm
nung nấu lòng kẻ xa
ta đứng phía mặt trời lên chậm
nửa đường đời cơn gió thoảng qua
... bao giờ
... sẽ tới lúc chăng” [5,tr.62].
Không gian đêm tối ở chặng cuối đường đời chuyển sang ánh sáng trên những
lối mòn nhỏ hẹp, chuyển lên trời với ánh nắng xanh quá khứ đồng hiện lại cùng hiện

tại bây giờ dù đã mấy chục năm qua:
“đêm tối trùm lên nửa cuối đời ta nhưng ta đã biết ánh sáng trên những lối mòn
nhỏ hẹp mọc nhiều loài hoa dại... nó làm ta bất chợt thức tỉnh giữa giếng sâu thăm thẳm
thời gian” [8,tr.7].


Cặp không gian chuyển hóa và thời gian đa tuyến cứ “xoay vòng” quá khứ, hiện
tại, tương lai có cả không gian tàn lụi lẫn không gian sinh thành:
“Con nghe nhịp tù và âm u trong thời gian ngày với đêm xoay vòng những chiếc
lá tách khỏi cành cây những chồi non tách khỏi hạt đi con đường không thể khác của tàn
lụi và sinh thành” [8,tr.20-21].


Đến Cỏ vẫn mọc, với cấu trúc điện ảnh, mỗi lần ống kính lia đi là một lần
chuyển hóa không gian và thời gian liên tục. Và đặc biệt là những vòng xoay của Khối
vuông ru - bích khiến không gian thơ cũng không thể đứng yên và thời gian chồng chéo
kéo theo muôn vàn suy tưởng. Chính cái cấu trúc điện ảnh và cấu trúc ru - bích này
khiến hơn ai hết, Thanh Thảo là người xác lập được rõ nét nhất mối quan hệ không thể
tách rời giữa sự chuyển hóa của không gian nghệ thuật với tính đa tuyến của thời gian
nghệ thuật. Nó cũng là sản phẩm của quá trình không ngừng tìm tòi, đổi mới cấu trúc
Trường ca và phong cách triết luận trùng phức của lối tư duy thơ đầy những “khoảng
lặng bí ẩn”, những “không gian rỗng” của thơ anh.


Không gian hồi tưởng - Thời gian quá khứ


Làm thơ, là từ những bức xúc hiện tại, nhưng nếu chỉ là hiện thực hiện tại mà
không có một tích lũy mang tính bề dài lịch sử thì hiện thực sẽ chỉ là mảng vỡ thiếu
tính nguồn cội, căn cơ. Những suy ngẫm hiện tại chỉ ắp đầy khi mảng hiện thực ấy
được ghép nối với bề dày quá khứ. Cũng như vậy, cảm xúc thực tại chỉ ắp đầy để đủ
sức tuôn ra thơ khi bề sâu tâm hồn đã tích lũy đủ độ chín. Chính vì thế, nghệ thuật luôn
là sự tiếp nối của thời gian từ quá khứ đến tương lai và đan xen trong không gian đa
chiều kích. Trong đó thời gian quá khứ luôn mở ra không gian hồi tưởng. Đó là sự “nhớ
lại”, nhưng đồng thời cũng là sự “sống lại” của quá khứ. Quá khứ luôn là một thứ hành
trang không thể thiếu để con người sống được trong hiện tại và vươn tới tương lai. Kỉ
niệm quá khứ thường là đẹp và buồn. Tất nhiên có cả những kỉ niệm không êm đẹp,
nhưng tất cả đều là hành trang có ích cho một con người. Lại càng là thứ vốn liếng
không thể thiếu ở một người làm nghệ thuật. Đúng như chính Thanh Thảo quan niệm
trong vòng xoay ru - bích thứ 53 của mình:


“Câu thơ hay không phải mục đích bài thơ, như một năm sống không phải mục
đích cả đời người. Nhưng anh thử không sống một năm xem? Năm trôi qua, ta chợt thấy
năm ấy của mình đẹp. Những câu thơ hay cũng được cảm nhận như thế. Cảm giác về cái
đẹp thường gắn liền với cảm giác nuối tiếc, nó thường hướng ta nhìn lại cái đã qua bằng
cái nhìn sâu xa hơn” [6,tr.27].

 

Chính quan niệm ấy đã mở ra trong thế giới thơ của Trường ca Thanh Thảo
những khoảng không gian hồi tưởng về một thời quá khứ đầy ắp kỉ niệm dù là quá khứ
xa xưa hay những quá khứ gần. Bờ xe nước sông Trà quê hương Thanh Thảo giờ đã
không còn, tiếng hò khoan cũng dường như im bặt trên dòng Trà Giang trước những
trào lưu âm nhạc hiện đại dập dồn; những đàn chim mía dường đã trốn phố về quê, con
che quay mía ép mật đường đã chỉ còn là ký ức... Nhưng cái không gian được hồi tưởng
lại trong đoạn thơ này quả là một thứ “đặc sản không gian Quảng Ngãi”:


“ngọt tiếng hò khoan bên bờ xe nước
trăng nghiêng dãi dề cát trắng
nghe ta cười đá cũng bớt trầm ngâm
nghe ai cười... ta thoáng gặp bầy chim
rợp một vùng tuổi thơ đã mất
che quay trưa hè kẽo kẹt
màu mía vàng nhòe trong nắng rưng rưng”.
Quá khứ gợi “thèm” cả hiện tại cho dù chỉ là vùng trời quá khứ trong giấc mơ
giữa chốn lao tù:
“thèm ăn trái ổi chín vàng
trong xà lim giữa cơn tỉnh cơn mê nhớ về hàng bông bụt
trên cát trắng màu hoa day dứt
nhớ cả mùi mùa thu trước ngõ nhà mình” [4,tr.50].
Và đây là cái thời gian quá khứ mở ra một không gian hồi tưởng đẹp như huyền
thoại của tuổi thơ thần tiên:


“như quả ổi lăn lăn về tuổi nhỏ
tôi tìm đến mùa thu và chờ đợi
một niềm vui nguyên vẹn tựa trăng rằm
mắt tôi gặp lũ mãng cầu ngơ ngác
bưởi rám da hệt lũ trẻ lưng trần
chẳng cần lo đến bao giờ trăng khuyết” [4,tr.66].


Không có một hiện thực quá khứ giàu và đẹp của tuổi thơ, rõ ràng sức cảm xúc
hiện thực hiện tại không thể “bùng nổ” nên những vần thơ đẹp đến mê người như vậy.
Đến cả chàng thi sĩ đầy chí khí và nổi tiếng ngông cuồng như Cao Bá Quát cũng phải
rưng rưng khi hồi tưởng về cái “nơi đó” của quá khứ:
“ở nơi đó dường như tình yêu
lần thứ nhất hoa xoan rơi lấm tấm
mưa giêng hai thấm áo người ơi
ở nơi đó ta nhỡ một nụ cười

ba mươi năm sau nhớ lại còn muốn khóc” [5,tr.65-66].


Một nụ cười quá khứ của tình yêu đầu đời đã qua ba mươi năm còn gây “hiệu
ứng khóc” đến nao lòng. Và ai dám bảo rằng: trước lúc hi sinh, Cao Chu Thần không
khóc khi nhớ lại cái nụ cười ẩn hiện mơ hồ trong không gian “hoa xoan rơi lấm tấm”
ấy. Hiểu nỗi lòng thi sĩ họ Cao, giờ đọc lại, vẫn thấy lòng ta rưng rưng bởi chính cái nụ
cười đã cách ta gần hai thế kỉ. Còn đây là không gian hồi tưởng trong những ngày mù
lòa dưỡng bệnh của cụ Đồ. Đau đớn, xót xa mà không bi lụy:
“Bỗng nhớ những ngày nằm dưỡng bệnh tại nhà thầy Cửa Hàn cơn gió biển nằng
nặng vuốt trên vầng trán đau đớn. Mối tình đầu tan vỡ sự phản bội niềm vui đầu tiên khi
được học nghề thuốc khi viết những dòng cuối Lục Vân Tiên” [8,tr.22].


Gần hơn là quá khứ chiến tranh. Những ngày Trường Sơn được Thanh Thảo hồi
tưởng lại với bao vui buồn sướng khổ:
“buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi 25
ở đường dây 559 - trạm 73
ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt
cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc
bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng” [1,tr.14].


hoặc: “Tôi xoay những ô vuông. Trạm 79 đường dây. Anh họa sĩ cho nhóm sốt rét chúng
tôi mấy lạng đường... Mười hai năm sau, thìa đường anh cho vẫn còn ngọt trong cổ tôi”
[6,tr.6].


Cuối cùng, đọc những dòng hồi tưởng này, giữa những ngày đầu thế kỉ 21 này,
lòng ta vẫn thấy xốn xang cho dù quá khứ ấy hiện lên có cả niềm vui, “cái sướng”:
“những cái khổ, qua rồi nghĩ lại vui, còn những cái sướng qua rồi nghĩ thấy thèm
và tiếc
Bây giờ được ngồi mà nhớ Trường Sơn mười mấy năm trước, sướng quá! Nhiều
đồng đội mình chẳng bao giờ còn được vậy
Giá đây là cuộc chiến tranh của trẻ con, sau khi kết thúc các người chết đều sống
lại, cười reo
Những nấm mộ nho nhỏ dọc Trường Sơn
Ai đã viết Trường Sơn hùng tráng. Tôi muốn viết Trường Sơn im lặng”
[12,tr.48-49].


Vâng, “Trường Sơn im lặng” - một không gian hồi tưởng của thời gian quá khứ
lặng im, da diết đến nao lòng.

 

2. Ngoài việc sử dụng đa dạng và hiệu quả các thể thơ và quan niệm về không
gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Trường ca Thanh Thảo, hành trình kiếm
tìm, đổi mới phương thức thể hiện của anh cũng còn rất nhiều điều cần nghiên cứu,
đặc biệt là sự làm mới thêm, phong phú thêm các biện pháp nghệ thuật truyền thống

như So sánh, Đối lập, Nhân hóa, Ẩn dụ,.. Do điều kiện dung lượng của một bài viết nên
chúng tôi xin được đề cập đến trong một dịp khác, nhưng cũng xin được khái quát vài
nét về sự độc đáo của các biện pháp nghệ thuật ấy. Với biện pháp nghệ thuật So sánh,
từ loại được Thanh Thảo sử dụng để so sánh nhiều nhất, đó là tính từ. Điều đặc biệt là
có lúc anh sử dụng so sánh tính từ nhưng tính từ lại được ẩn đi để người đọc tự hiểu
và tìm ra từ so sánh ấy. Bên cạnh đó, với giọng thơ mang tính phức điệu triết luận nên
so sánh của Thanh Thảo cũng mang tính trùng phức (không phải trùng điệp) rất cao với
hàng loạt những so sánh nối tiếp nhau nhằm lý giải đến tận cùng vấn đề cần nói:


“các anh dân lậu
từ bỏ quê nghèo xiêu tán lênh đênh
như bèo dạt như mây trôi
khuôn mặt buồn hơn câu hát
câu hát buồn hơn đêm rừng Sác hoang vu” [1,tr.9]...
Biện pháp nghệ thuật đối lập cũng được Thanh Thảo sử dụng nhiều vì biện
pháp này rất phù hợp với kiểu tư duy “thơ vệ tinh” đầy khoảng trống của thơ anh:
“Khi các thần tiên đã yên nghỉ trên trời
nhân dân tôi khởi sự lên tự phù sa vất vả” [1,tr.51]...


Anh muốn nối liền hai cặp đối lập trời - đất (âm - dương) bằng những tia chớp
thơ nhanh và đầy sáng tạo. Vì thế, có người gọi Thanh Thảo là nhà thơ của mặt đất cỏ
xanh và bầu trời lửa đỏ, lại cũng có người đi tìm hai yếu tố tương khắc (Nước và Lửa)
trong thơ Thanh Thảo để lần ra sự tương sinh độc đáo của thơ anh kiểu như “trái tim
dòng sông bốc cháy” hoặc “nước rực cháy”... Nhân hóa cũng là biện pháp nghệ thuật
mà Thanh Thảo tạo được nhiều ấn tượng do sự chi phối của phong cách thơ anh. Anh
muốn tìm đến tính đa chiều kích của hiện thực cuộc sống và tâm lý con người với cái
nhìn triết lý nên nhân hóa của anh mới mẻ, đầy tính phát hiện. Anh không những tạo
nên một hình ảnh nhân hóa mà còn có khi tạo thành cả “chuỗi nhân hóa” trên phạm vi
cả câu cả đoạn:
“cây chết đứng lần đầu tiên ngã xuống
đưa toàn thân áp chặt nắp hầm” [1,tr.38],
hoặc: “lá non ơi lá non
nhỏ mềm áp vào mặt ta nóng rực
cứ đứng mãi bên bờ sông tiễn biệt
thuyền khuất rồi cây nhớm gốc nhìn theo” [4,tr.59]...


Còn Ẩn dụ trong Trường ca Thanh Thảo có một điều dễ gây chú ý cho chúng ta
là sự sáng tạo, tìm tòi. Anh tạo ra được nhiều ẩn dụ lạ và thú vị, kiểu như: mặt trời thì
anh gọi là:

“trái - dừa - lửa kì lạ
treo trên đời tất thảy chúng ta” [3,tr.45].
Cỏ được anh gọi là “những ngọn sóng của đất” [2,tr.44], “những tín hiệu của mặt
đất” [5,tr.79], rồi muối trắng đọng trên ngực áo người chiến sĩ hi sinh, anh gọi đó là
“sữa của biển” [1,tr.54]...
*
*
*
Tập trung phân tích không gian nghệ thuật - thời gian nghệ thuật; đồng thời
điểm qua một số biện pháp nghệ thuật thường dùng trong Trường ca Thanh Thảo,
chúng tôi muốn nhấn mạnh một điều: tất cả đó đã góp phần tạo nên phong cách Thanh
Thảo và những phương thức nào phù hợp với kiểu tư duy thơ anh thì thường được anh
sử dụng nhiều nhất và mang lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Trường ca Thanh Thảo
đa dạng trọng sử dụng các thể thơ, đặc biệt là sự táo bạo của anh khi dám dùng độc
thể thơ văn xuôi cho cả hai Trường ca, và độc đáo hơn, là anh đã sáng tạo một loại “thơ
hợp thể” hiện đại qua các vòng xoay ru - bích. Đối với các biện pháp nghệ thuật, có
thể nói, Thanh Thảo cũng đã góp phần “làm mới” hơn các biện pháp mang tính truyền
thống cho phù hợp với cách phản ánh và phát hiện hiện thực cuộc sống, con người hiện
đại và cái kiểu tư duy thơ hiện đại của mình.
----------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Thanh Thảo (1977), Những người đi tới biển - Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

2. Thanh Thảo (1978), “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (Nxb

Văn học, Hà Nội tái bản 1997)

3. Thanh Thảo (1982), “Những Nghĩa sĩ Cần Giuộc”, Những ngọn sóng mặt trời,

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

4. Thanh Thảo (1982), “Bùng nổ của mùa xuân”, Những ngọn sóng mặt trời, Nxb

Quân đội nhân dân, Hà Nội

5. Thanh Thảo (1985), “Đêm trên cát”, Khối vuông rubich, Nxb Tác phẩm mới,

Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội

6. Thanh Thảo (1985), “Khối vuông rubich”, Khối vuông rubich, Nxb Tác phẩm

mới, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội

7. Thanh Thảo (2002), “Cỏ vẫn mọc”, Trò chuyện với nhân vật của mình, Nxb

Quân đội nhân dân, Hà Nội

8. Thanh Thảo (2002), “Trò chuyện với nhân vật của mình”, Trò chuyện với nhân

vật của mình, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

9. Thanh Thảo (1978), Dấu chân qua trảng cỏ, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn

Việt Nam, Hà Nội

10. Thanh Thảo (1987), Bạch đàn gọi bạch dương, Nxb Tổng hợp Nghĩa Bình

11. Thanh Thảo (1987), Tàu sắp vào ga, Nxb Tổng hợp Nghĩa Bình

12. Thanh Thảo (1987), Từ một đến trăm, Nxb Đà Nẵng

13. Thanh Thảo (2004), “Thời gian cô đặc trong thơ Văn Cao”, Tạp chí Văn nghệ Quảng Ngãi
(Tết Dương lịch), tr.55-57

 

 

 

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Tác phẩm - Dư luận ::
  •   Tiểu thuyết nay trên nền phong tục xưa
  •   TIỄN MỘT NGƯỜI THƠ
  •   HỒ MINH TÂM VÀ HÀNH TRÌNH THƠ “TÔI MUỐN KHÁC”
  •   “MƯA DẮT NGANG CHIỀU”
  •   THU LOAN- NGƯỜI KỂ CHUYỆN RỪNG
  •   “Đồng Lộc mang giấc mơ hoa tím”
  •   Trong tim có tiếng trống đồng vang ngân
  •   CHIỀU XƯA
  •   ĐỌC “TIỆC RƯỢU GIỮA ĐỒNG” THƠ LÊ ĐĂNG MÀNH
  •   Giai điệu thơ Tiệp Khắc trong lòng Việt Nam
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net