Tìm kiếm:

Số truy cập: 10999930

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

SÁCH MỚI ĐƯỢC TẶNG

 

- Phía ngày loang nắng (thơ, Huệ Nguyên)

- Chạy trốn ( Tập truyện, Phạm Thị Bích Thủy)

- Mùa trôi trên quanh gánh (tản văn, Hương Thị)

- Mười năm vẫn mới mầu hoa cũ (thơ, Lê Minh Chánh)

- Bữa tiệc ly ( tập truyện , Lê Hoài Nam)

 

Xin trân trọng cảm ơn các tác giả, các đơn vị xuất bản đã gửi tặng sách và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

Từ ngày này sang tháng khác, Linh cắm mặt vào chậu than. Nhìn hết lớp than này đến lớp than khác biến thành tro. Linh thấy mình cũng như tàn tro ấy thôi, nhưng vẫn cứ phải cố rực lên mà nhen thêm chút lửa…

(Tàn tro)

 

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Tin tức - Sự kiện- Bình luận


Nét đặc sắc trong tiểu thuyết của Y.Kawabata

     Lê Thanh Huyền ( Nghệ An )

     

    Một số thủ pháp nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng biểu tượng trong tiểu thuyết của Y.Kawabata

     

(Qua khảo sát bộ ba tác phẩm đoạt giải Nobel: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô)

                                                  

                    Y.Kawabata là một trong những hiện tượng kì diệu nhất của văn học thế giới thế kỷ XX. Năm 1968, với giải thưởng Nobel đoạt được cho bộ ba tiểu thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Y.Kawabata đã góp phần quan trọng khai mở cánh cửa bí ẩn về văn hóa phương Đông, bắc nhịp cầu tới đông đảo bạn đọc và các nhà nghiên cứu phương Tây. Tại Việt Nam, Kawabata đã được tuyển dịch nhiều tác phẩm, từ truyện ngắn, Truyện trong lòng bàn tay đến tiểu thuyết- đỉnh cao sự nghiệp sáng tác của ông. Cũng đã có nhiều công trình, bài viết về Kawabata nhưng chủ yếu khai thác từ góc độ cảm nhận- phê bình và tự sự học. Kawabata là một nhà văn Nhật Bản thuần túy. Nghiên cứu tác phẩm của ông từ góc nhìn văn hóa học, bởi vậy, là một hướng đi có nhiều ý nghĩa nhưng còn khá mờ nhạt. Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi chủ yếu trình bày một số thủ pháp nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng biểu tượng trong tiểu thuyết của ông, từ đó hé lộ một thế giới văn hóa ngầm ẩn đằng sau những con chữ. 


 

    1. Tạo ý nghĩa biểu tượng trên cơ sở tương phản, đối lập

     

             Từ điển bách khoa toàn thư (wikipedia) giải thích rất ngắn gọn về ý nghĩa của hai từ tương phản và đối lập: “ Tương phản: trái nhau. Đối lập: trái ngược hẳn nhau”.Trong văn học, thủ pháp nghệ thuật tương phản, đối lập được dùng để xây dựng những hình ảnh, chi tiết, hình tượng, giọng điệu... có tính chất, đặc điểm hoàn toàn trái ngược nhau; nhằm nhấn mạnh một tư tưởng, nội dung hay một quan điểm nào đấy. Tuy nhiên, sự trái ngược về bản chất ấy phải được xét cho những đối tượng trên cùng một bình diện và theo một tiêu chí nhất định, điều đó mới khiến nó có ý nghĩa. Nghiên cứu thế giới biểu tượng trong tiểu thuyết Y.Kawabata, chúng tôi nhận thấy một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc khi xây dựng biểu tượng của ông là tương phản, đối lập. Ở đây, chủ yếu là sự tương phản, đối lập trên cấp độ hình tượng.

 

      Việc sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập khi xây dựng biểu tượng của Y.Kawabata có một sự cộng hưởng với tính tương phản trong nền văn hoá và văn học Nhật Bản: đất nước của hoa Anh đào và võ sỹ Samurai, của thể thơ Haiku bé nhỏ và cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên trên thế giới Gienji monogatari … Là một nhà văn thuần túy Nhật bản, cảm thấu và trân trọng đặc biệt văn hóa truyền thống, trong tác phẩm của mình Kawabata đã luôn cụ thể hoá tính tương phản rõ nét của dân tộc trên nhiều phương diện mà biểu tượng là một góc độ đặc sắc.

 

      Có thể nói, những hình tượng là biểu tượng trong tiểu thuyết Kawabata phần lớn đều tồn tại trong một thế đối lập, tương phản với bản thân nó hoặc với hình tượng khác cùng dạng.

 

      Những biểu tượng tồn tại trong thế đối lập với chính nó là: cuộc hành trình lên Xứ tuyết của Shimamura; chiếc chén trà Shino và Cố đô. Shimamura tìm về với Xứ tuyết- miền đất xa xôi mà thiên nhiên còn lưu giữ tinh thần Nhật Bản trong một xu thế rời bỏ thế giới thực tại đầy xô bồ, ồn ã của Tokyo. Nhưng đến Xứ tuyết, chàng vẫn luôn sống trong một trạng thái tình cảm lưỡng phân: một tình yêu nồng nàn nhục cảm cùng Komoko và một khao khát lý tưởng thanh sạch với Yoko. Cuộc hành trình ấy chính là hành trình đi tìm lời đáp cho một lối ứng xử trước không khí thời đại đối chọi giữa xu hướng níu giữ truyền thống và xu hướng phương Tây hoá.

 

      Chén trà Shino và Cố đô là hai hình tượng đặc biệt. Đó là dấu ấn đậm nét của một nền văn hóa lâu đời và đặc sắc mang phong cách Đông phương. Nhưng cả hai đều được miêu tả như cái đẹp trong chiều hướng phôi phai, nói đúng hơn là cái đẹp cổ điển đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. Nếu chiếc chén Shino là hiện thân của vẻ đẹp thanh tao, trang nhã trong nếp uống trà đã thành một tôn giáo nghệ thuật thì những mối quan hệ, những nhỏ nhen, phàm tục xung quanh nó lại là biểu hiện của một sự suy vi, phai tàn. Nếu Cố đô hiện lên với chùa chiền, lễ hội, hoa anh đào, kimono… là niềm tự hào của người Nhật về kinh đô văn hóa lâu đời thì bản thân nó cũng sắp “biến thành một ô-ten khổng lồ có kim cao lâu” [2, 689]. Vì vậy chén trà Shino hay Cố đô đều là biểu tượng sinh động về hiện trạng của cái đẹp truyền thống Nhật Bản khi lối sống phương Tây du nhập mạnh mẽ.

 

      Lửa và tuyết; Komako và Yoko; cô gái có chiếc khăn ngàn cánh hạc và Fumiko; Chieko và Naeko là những cặp biểu tượng song hành và đối lập . Nếu loại biểu tượng tồn tại trong thế đối lập với chính nó biểu hiện một giá trị truyền thống trong chiều suy thoái thì việc dựng lên các cặp biểu tượng đối lập nhau của Kawabata dường như không kèm theo một sắc thái chủ quan nào cả. Kawabata chỉ tái hiện các vẻ đẹp trong sự tương phản như trình bày một hiện tượng của đời sống đang diễn ra, tuyệt nhiên không tỏ một thái độ khu biệt nào. Nhà văn không có ý định phân tuyến nhân vật (như truyện cổ tích), cái mà ông hướng tới là kiếm tìm cái đẹp và lựa chọn là công việc của bạn đọc. Komako là một vẻ đẹp Tây phương hóa nhưng Kawabata đã dành nhiều tâm huyết nhất để diễn tả vẻ đẹp ấy. Cả Komako và Yoko đều xuất hiện trên cái nền tương phản của tuyết và lửa, của trong trẻo và đam mê, của hiện hữu và mất mát, của sự vô thường và bí ẩn như cái đẹp muôn đời. Cô gái với chiếc khăn thêu ngàn cánh hạc cũng có mặt trong tác phẩm ít ỏi như Yoko nhưng vẻ đẹp rạng rỡ, ngời sáng ấy đã làm bừng lên trong tâm hồn Kikuji một chút ấm áp. Kikuji cũng xao động đến não lòng trước vẻ đẹp của sự hoang mang và tuyệt vọng của Fumiko. Cái đẹp của Fumiko là cái đẹp của ánh hoàng hôn sắp tắt, nó gợi một niềm tuyệt vọng nhưng là sự tuyệt vọng đầy mĩ cảm. Chieko trong Cố đô lại mang trong mình một vẻ đẹp thanh quý, giản dị và nền nã, đúng dáng dấp cổ điển. Trong khi Naeko, chị em sinh đôi với nàng lại là một cô gái lao động khỏe khoắn, tươi trẻ, tràn đầy sức sống. Những vẻ đẹp tương phản ấy đặt cạnh nhau nhưng không hề bộc lộ sự khiên cưỡng hay khập khiễng. Chúng trái ngược nhau song từ trong nguồn cội chúng đều là biểu tượng của cái đẹp vĩnh hằng, Nữ tính Vĩnh cửu. Kawabata đã miêu tả những vẻ đẹp khác nhau bằng đôi mắt của một nhà thẩm thấu văn hóa nhân loại. Chính điều này làm nên sự vĩ đại trong tư tưởng của nhà văn, và nó có đủ sức mạnh để kết nối Đông – Tây như nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận.

 

      Sự tồn tại cùng lúc của những hiện tượng đối lập, tương phản là một nét thú vị của mĩ học Nhật Bản. Và, Kawabata, trong khi xây dựng thế giới biểu tượng bằng việc sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập đã làm nổi bật đặc tính ấy. Bởi vậy, bản thân việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật này đã biểu hiện cốt cách một con người thuần túy Nhật Bản trong Kawabata.   


 

2. Sử dụng phép lặp mang ý nghĩa biểu tượng cho chi tiết.

 

      Trong Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử có viết: “các nguyên tắc thi pháp thể hiện qua các yếu tố lặp lại và không lặp lại. Không tìm thấy tính độc đáo sáng tạo thì không thấy tính nghệ thuật, mà không thấy tính lặp lại trên nhiều cấp độ và trong một hay nhiều văn bản thì không thấy các quy tắc tổ chức hình thức” [3, 38]. Sự lặp lại vụng về và tối nghĩa chỉ là biểu hiện của một cây bút còn non trẻ. Nhưng sự lặp lại trong tính vừa ổn định vừa phát triển của nó là một dụng công nghệ thuật, một dấu hiệu quan trọng để nhận diện một nét phong cách của nhà văn. Khi xây dựng biểu tượng trong tiểu thuyết của mình, Kawabata chủ yếu sử dụng phép lặp với chi tiết trên hai cấp độ cơ bản: trong một văn bản và xuyên suốt nhiều văn bản. Điều này một mặt tạo ra tính hệ thống và mạch ngầm liên văn bản trong tiểu thuyết Kawabata mặt khác làm nên những nét thẩm mĩ riêng cho mỗi tác phẩm.

 

      Sự lặp lại một biểu tượng trong một tiểu thuyết là điều dễ nhận thấy ở lối viết của Kawabata. Tuy nhiên, ở cấp độ trong một văn bản và với cùng một biểu tượng thì sự lặp lại cũng biểu hiện dưới hai dạng chính: lặp lại nguyên gốc và lặp lại biến thể. Chẳng hạn khi xây dựng hình ảnh một xứ sở ngập tràn trong sắc trắng tinh khôi và không khí trong trẻo của tuyết, tác giả đã để chi tiết này lặp lại trong tác phẩm đến trên 100 lần. Cũng như vậy để nhấn mạnh vẻ đẹp thiên thần, lý tưởng nhưng xa xăm của Yoko, Kawabata đã điệp khúc giọng nói ấm áp, trầm buồn và sâu thẳm của nàng tới 15 lần; miêu tả con mắt cháy lửa tới 10 lần và gương mặt đầy lạ lùng xa cách tới 9 lần. Đó là sự lặp lại một chi tiết nhằm gây một ấn tượng sâu đậm về một hình ảnh hoặc biểu thị một ám ảnh dai dẳng nào đó trong tâm thức nhân vật.

 

      Sự lặp lại một biểu tượng dưới nhiều biến thể vừa gieo một dấu ấn tương đồng, cùng một ý nghĩa lại vừa gợi ra sự sinh động, phong phú của đời sống biểu tượng. Chiếc chén Shino là một ví dụ. Nó là biểu tượng tồn tại dưới bốn biến thể nữa là chén Oirbe, bình Shino, cặp chén Raku và chiếc chén Karatsu. Tất cả đều biểu trưng cho vẻ đẹp trà đạo trong cảm thức suy tàn nhưng mỗi đồ vật với mỗi lịch sử riêng, nét đẹp riêng, số phận riêng đã tạo nên một sức hấp dẫn vô cùng với người đọc. Hay như đã nói, Cố đô thực ra là một biểu tượng mang tính hợp thể của nhiều chi tiết mà chi tiết nào cũng đặc sắc và đầy tiếng nói văn hóa: từ hoa anh đào, kimono đến chùa chiền, lễ hội, phố cổ… Kawabata xây dựng biểu tượng cố đô như một tham vọng lưu giữ tất cả những biểu hiện tinh túy của tâm hồn Nhật Bản. Bản thân điều ấy cũng đã khiến Cố đô trở thành một biểu tượng đa nghĩa.

 

      Nhưng như đã biết, bản chất của biểu tượng là tồn tại trong những cặp phạm trù đối lập: vừa cụ thể vừa khái quát, vừa ổn định vừa gợi mở, cho nên ngay cả sự lặp lại một biểu tượng dưới dạng nguyên gốc trong một văn bản thì cũng không phải là sự sao chép vô hồn. Mỗi lần xuất hiện dù lớp vỏ biểu đạt không thay đổi nhưng ý nghĩa biểu đạt của nó có thêm sắc thái mới. Ví như sự lặp lại của biểu tượng dải Ngân Hà trong Xứ tuyết. Ngân Hà, trong mẫu gốc biểu tượng văn hóa thế giới, với các bộ lạc thổ dân Bắc Mỹ là con đường các vong hồn trở về thế giới bên kia. Có nhiều truyền thuyết về Ngân Hà nhưng đều được coi là nơi đi qua, có nguồn gốc thần thánh, nối liền thế giới thánh thần với hạ giới. Ngân Hà cũng là đường ranh giới giữa thế giới chuyển động và cõi vĩnh hằng bất động. Xuất hiện trong Xứ tuyết tới 7 lần, dải Ngân Hà là một biểu tượng gây nhiều ám ảnh.

 

      Chi tiết dải Ngân Hà xuất hiện khi tác phẩm đã đi vào hồi kết, có vẻ là sự phù hợp với ý nghĩa mẫu gốc của nó. Và quả tình, dải Ngân Hà trong Xứ tuyết là một biểu tượng của sự mất mát, nhưng mỗi lần có mặt chi tiết ấy lại biểu thị một sắc thái mới mẻ. Lần thứ nhất, dải Ngân Hà được Komako và Shimamura bắt gặp gần như đồng thời với đám cháy. Đó là một vẻ đẹp vừa lộng lẫy vừa gợi lên cái sức mạnh mênh mông của vũ trụ: “Ngay trên đầu anh, dải Ngân Hà nghiêng cái vòng cung xuống, ôm lấy trái đất tối đêm trong cái xiết thanh sạch, vô cảm, không giải thích nổi. Hình ảnh trong sạch và gần gũi của niềm khoái lạc dữ dằn… cái dải băng vô cùng vô tận đó, cái mạng che hết sức mong manh đó, dệt ra từ trong vô cùng, khiến Shimamura nhìn không rời mắt”[3, 332]. Dải Ngân Hà tuyệt đẹp và mênh mông xuất hiện cùng đám cháy là dự báo cho một cái đẹp mong manh sắp qua đời.

 

      Chạy theo Komako đến gần đám cháy, Shimamura lại nhìn thấy dải Ngân Hà nhưng lần này chàng đã nhận ra sự phôi pha của nguồn ánh sáng ấy: “Có thể nào lại ảm đạm đi, cái vầng sáng kỳ diệu vắt ngang trời ấy” và “cái ánh sáng ma quái của nó khiến gương mặt của Komako có vẻ kỳ lạ như một mặt nạ cổ xưa, phía sau đó lại hiện rõ một sắc mặt đầy nữ tính.” [3, 334]. Dải Ngân Hà để lại trong Shimamura một cảm xúc khó tả, một sự rung động mãnh liệt: “Như một bình minh vô tận, dải Ngân Hà dâng sáng ngập người anh, trước khi mất tăm trong cõi vô biên tận cùng của vũ trụ. Và cái giá lạnh trong ngần lướt trên anh như một cơn rùng mình, một đợt sóng khoái cảm, khiến anh kinh ngạc sững sờ.”[2, 334]. Và khi Komako vùng chạy tới đám cháy, bỏ lại Shimamura một  mình, chàng bỗng thấy “tấm voan phủ lộng lẫy của dải Ngân Hà bị xé toạc bởi sự gập ghềnh của những ngọn núi cao. Và cũng từ cái tấm voan ấy anh lại thấy những vẻ sáng lấp lánh trên cao vòi vọi, bỏ lại những ngọn núi với dáng nặng nề của nó.” [2,335]. Dải Ngân Hà lần này đã mang ý nghĩa của một niềm mất mát. Đó là cảm giác rạn nứt trong cõi lòng Shimamura do Komako mang lại, dù nó chưa rõ ràng.

 

      Khi đám lửa đã bùng lên dữ dội thì Shimamura lại nhìn lên giữa lòng dải Ngân Hà và chàng vẫn bắt gặp cái ánh sáng “lấp lánh và sâu thẳm, rực rỡ và lộng lẫy hơn, vòng cung sang tận phía kia, nơi mà cá giọt nước từ các tia vòi rồng sáng loáng lên, khi chúng trật mục tiêu và tan biến vào khoảng không vũ trụ” [2, 337]. Đó là sự qua đời, sự đi vào cõi vĩnh hằng của cái đẹp. Ngay lập tức Shimamura cảm thấy sự xa cách sắp tới và chàng như muốn cưỡng lại sự chia ly ấy. Nhưng chính chàng cũng nhận đã nhận ra sự bất lực trong khao khát níu kéo. Yoko đã rời xa thế giới, vừa bi thảm vừa nhẹ nhàng, vừa ám ảnh vừa như một lẽ tự nhiên, ẩn trong dải Ngân Hà gợi một niềm mĩ cảm tuyệt vọng.

 

      Dải Ngân Hà đã khép lại Xứ tuyết trong một nỗi niềm mất mát và trống rỗng đến sâu thẳm: “Anh bước lên để đứng cho vững và khi anh ngã đầu về phía sau, dải Ngân Hà tuôn chảy lên anh trong cái thứ tiếng thét gầm dằn dữ.”[2, 339].  Cái đẹp đã tan biến vào vũ trụ, và ngay cả sự nồng nàn đầy nhục cảm mà Komako mang lại cũng đã rời xa Shimamura. Trong chàng chỉ còn vọng lên tiếng gào thét của một niềm trống trải vô biên.

 

      Như vậy, dù lặp lại nguyên dạng biểu đạt nhưng “dải Ngân Hà” vẫn gợi ra nhiều sắc thái biểu cảm sinh động. Điều này vừa là một đặc tính của biểu tượng vừa chứng tỏ tài năng của một cây bút bậc thầy.

 

      Bên cạnh việc khai thác giá trị của phép lặp chi tiết trong cấp độ một tác phẩm, Kawabata còn triển khai nó trong cái nhìn liên văn bản, tạo thành một xâu chuỗi biểu tượng đồng đẳng nhưng đều thể hiện một nét đặc trưng trong nhãn quan của ngưòi nghệ sĩ. Khảo sát bộ ba tiểu thuyết đạt giải Nobel, chúng tôi nhận thấy những biểu tượng  sau đây có sự lặp lại đầy dụng ý nghệ thuật: biểu tượng cuộc hành trình (hành trình lên xứ tuyết của Shimamura, hành trình tìm về truyền thống qua cuộc du xuân của gia đình Chieko, thậm chí xu hướng rời bỏ trà đạo cũng là một hành trình của Kikuji); biểu tượng cái chết (Yoko, bố mẹ Kikuji, bà Ota, và sự mơ hồ ra đi của Fumiko); biểu tượng thiên nhiên ( xứ tuyết, cố đô) và biểu tượng người con gái (Komako, Yoko, cô gái với chiếc khăn ngàn cánh hạc, Fumiko, Chieko va Naeko). Nhìn vào hệ thống các biểu tượng ấy có thể nhận thấy mấy điểm sau đây:

      Thứ nhất, tiểu thuyết của Kawabata luôn có xu hướng tìm về với truyền thống trong một cảm thức mất mát và suy tàn.

 

      Thứ hai, cái chết là một ám ảnh ghê gớm với Kawabata, tiểu thuyết của ông luôn mang màu sắc buồn bã của sự chia ly và niềm tuyệt vọng.

 

      Thứ ba, cái đẹp với Kawabata là vũ trụ vĩnh hằng và Nữ tính vĩnh cửu. Vũ trụ là thiên nhiên hoang sơ, tuyệt mĩ và nữ tính vĩnh cửu là ở người con gái. Nhưng đó bao giờ cũng là cái đẹp mong manh và không thể sở hữu. Cái đẹp như một ước vọng không cùng.

 

      Thứ tư, tất cả những biểu tượng trong tiểu thuyết Kawabata đều gặp nhau ở sự biểu đạt tâm hồn Nhật Bản : tôn thờ cái Đẹp, hòa hợp tương giao giữa con người - tự nhiên và phát triển trong trạng thái đầy mâu thuẫn trái ngược.

 

      Như vậy rõ ràng việc lặp lại chi tiết khi xây dựng biểu tượng trong tiểu thuyết Kawabata là một sự dụng công nghệ thuật. Khi đọc cần phải nhìn thấy tính lặp ở đây như một phương thức tổ chức cấu trúc chặt chẽ của tác phẩm để tránh hiện tượng hiểu sai ý nghĩa biểu tượng của chi tiết ấy.

 

      Sự lặp lại chi tiết khi xây dựng biểu tượng của Kawabata còn vượt lên trên giới hạn thể loại, tạo nên một sự phức hợp nhiều ý nghĩa của một biểu tượng trong toàn bộ sáng tác của nhà văn. Chẳng hạn biểu tượng cuộc hành trình đã xuất hiện ngay trong truyện ngắn đầu tiên của Kawabata: Vũ nữ Izu, tái xuất trong hàng loạt truyện trong lòng bàn tay như Địa tang vương Bồ Tát Oshin, Hiện hữu thần linh, Lời nguyện cầu của xử nữ, Đôi mắt của mẹ, Trang điểm… cho đến những tiểu thuyết cuối cùng của ông: Người đẹp say ngủ, Tiếng rền của núi, Đẹp và buồn. Biểu tượng ấy nói lên đầy đủ nhất phong cách “lữ khách u sầu đi tìm cái đẹp” của nhà văn. Hoặc như biểu tượng nữ tính (người con gái) cũng là một biểu tượng đặc sắc của Kawabata . Thậm chí ông còn có hẳn một truyện trong lòng bàn tay lấy tên là Tính nữ (Hoàng Long dịch). Cặp đôi “lữ khách” và “người đẹp” vì thế lại tạo nên cặp biểu tượng độc đáo trong thế giới nghệ thuật Y.Kawabata.

 

      Tóm lại, có thể thấy phép lặp (trong ý nghĩa vừa ổn định vừa phát triển của nó) là một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng trong việc xây dựng ý nghĩa biểu tượng của Y.Kawabata. Lẽ dĩ nhiên, đó không phải là thủ pháp do Kawabata sáng tạo ra song ông đã khai thác triệt để tính ưu việt của nó để thể hiện một thế giới biểu tượng sinh động trong sáng tác của mình. 


 

3.  Lựa chọn tiêu đề tác phẩm mang tính biểu tượng

 

       Tác phẩm văn học là “con đẻ” của nhà văn. Bởi vậy, việc “khai sinh” nó bao giờ cũng gắn với sự lựa chọn một tên gọi thích hợp. Tiêu đề trong văn bản văn học là một dấu hiệu mang tính nghệ thuật. Phần lớn nó gắn  với tên nhân vật chính, biến cố chính (với tác phẩm tự sự) hoặc với tâm trạng chính, hay đối tượng gợi tâm trạng (với tác phẩm trữ tình). Tiêu đề, do vậy, thường thể hiện tập trung tư tưởng cốt lõi người viết đề cập trong tác phẩm. Ngay cả trong trường hợp lệch pha giữa tên gọi và nội dung tác phẩm, không có quan hệ gì (trong văn học phi lý) thì bản thân tiêu đề ấy cũng là một sự vô nghĩa lý mà tác giả muốn diễn tả. Việc đặt tiêu đề như một biểu tượng trong tác phẩm văn học cũng không phải là điều quá mới mẻ. A.P.Sêkhôp là một ví dụ tiêu biểu. Truyện ngắn của ông rất nhiều tiêu đề đồng thời mang tính biểu tượng, chẳng hạn: Thảo nguyên, Phòng 6, Người đàn bà có con chó nhỏ, Người trong bao … Đây cũng là một đặc sắc trong truyện ngắn Sêkhôp.

 

      Tiêu đề tiểu thuyết của Y.Kawabata phần lớn cũng là một biểu tượng: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Người đẹp say ngủ, Tiếng rền của núi, … nhưng có điểm độc đáo so với tiêu đề - biểu tượng trong truyện ngắn Sêkhôp. Tiêu đề trong truyện ngắn Sêkhôp thường là biểu tượng trung tâm trong tác phẩm. Chẳng hạn Thảo nguyên đồng thời là biểu tượng mà Sêkhôp tập trung khắc họa: vẻ đẹp của thảo nguyên bao la hay là bức tranh thu nhỏ của một nước Nga rộng lớn. Trong khi đó, tiêu đề trong tiểu thuyết của Y.Kawabata không nhất thiết phải là biểu tượng trung tâm của tác phẩm, song, phải là biểu tượng đánh thức được mối liên hệ với các biểu tượng còn lại nhạy bén nhất. Xứ tuyết và ngàn cánh hạc là ví dụ điển hình.

 

      Xứ tuyết chỉ là một biểu tượng có ý nghĩa làm nền cho các biểu tượng khác trong tác phẩm như cuộc hành trình của Shimamura hay người con gái Komako và Yoko song đó lại là biểu tượng có ý nghĩa như khởi điểm hay đích đến của những biểu tượng khác. Komako và Yoko là những vẻ đẹp sinh ra từ Xứ tuyết. Còn Xứ tuyết trong cuộc hành trình của Shimamura lại giống như một “miền đất hứa”, một đích đến để chạy trốn cuộc sống phàm tục và tìm lại bản ngã. Vì vậy, lấy Xứ tuyết làm tiêu đề tiểu thuyết, Kawabata đã đánh động được cả một miền tâm thức để gợi ra bao biểu tượng khác.

 

      Ngàn cánh hạc, so với Xứ tuyết, thậm chí chỉ là một biểu tượng đi kèm với biểu tượng cô gái nhà Imamura nhưng chính sự thấp thoáng ấy lại nói lên được nhiều ý nghĩa. Ngàn cánh hạc là điểm sáng lung linh duy nhất trên bức tranh u buồn của trà đạo suy tàn. Ngàn cánh hạc cũng là ngọn lửa duy nhất làm ấm áp và thanh lọc tâm hồn bị vây bọc bởi sự nhỏ nhen xung quanh của Kikuji. Ngàn cánh hạc, do vậy, là biểu tượng làm bừng sáng một chút hi vọng giữa không khí ảm đạm của cả tiểu thuyết. Chọn nó làm tiêu đề tác phẩm, Kawabata muốn gửi gắm một niềm hi vọng thầm kín vào số phận của văn hóa truyền thống trong buổi giao thời.

 

      Dĩ nhiên là tiểu thuyết Kawabata cũng lựa chọn biểu tượng ôm trùm tác phẩm làm tên gọi như Cố đô. Tuy nhiên, bản thân Cố đô cũng là một biểu tượng đặc biệt. Đó là sự hợp thể của nhiều biểu tượng nhỏ khác làm thành biểu tượng chung về một không gian văn hóa cổ truyền Nhật Bản. Lấy tiêu đề là Cố đô thực chất là sự gói gọn ý nghĩa hợp thể ấy. Vả lại cái tên gọi Cố đô tự nó đã gợi một niềm xưa cũ hay một hoài vọng quá khứ, nó mang tính mĩ cảm cổ điển Đông phương. Do vậy, ngay cả khi tiêu đề đồng nhất với biểu tượng trung tâm Kawabata cũng làm cho nó trở nên độc đáo, rất riêng so với các nhà văn khác.

 

      Một điều cần phải thấy là việc đặt tiêu đề tác phẩm trùng với một biểu tượng trong đó với Kawabata không dừng lại ở tiểu thuyết. Từ truyện ngắn cho đến Truyện trong lòng bàn tay của ông, ta đều có thể bắt gặp hiện tượng này. Chẳng hạn truyện ngắn Thủy nguyệt (trăng soi đáy nước), Cánh tay, hay Truyện trong lòng bàn tay như Tuyết, Tính nữ, Nước… Tất cả tạo thành một thế giới biểu tượng phong phú, đa dạng và độc đáo ngay từ cách biểu đạt trong sáng tác Kawabata. Chính Kawabata đã phát hiện và làm ý nghĩa thêm cho giá trị của tiêu đề văn bản văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng. 


 

                                         *                 *                   * 

      Xây dựng một thế giới biểu tượng đặc sắc, Kawabata chủ yếu sử dụng các thủ pháp nghệ thuật: tương phản- đối lập, phép lặp và lựa chọn tiêu đề tác phẩm. Với mỗi thủ pháp nghệ thuật, Kawabata đều triển khai trên nhiều cấp độ: từ trong một tác phẩm cụ thể đến loạt tác phẩm cùng thể loại và vượt lên giới hạn của thể loại đạt đến tính “ liên văn bản”. Do vậy, phương thức biểu tượng trở thành một tín hiệu đặc biệt để nhận diện chân dung phong cách tiểu thuyết nói riêng và phong cách nghệ thuật nói chung của Y.Kawabata. 
 

Tài liệu tham khảo

  1. Sự tương phản trong văn hóa và văn học Nhật Bản (3/2/2008), Nguồn Google.
  2. Yasunari Kawabata (2005), Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.
  3. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

 

 

Bản gửi Phongdiep.net

 

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Tin tức - Sự kiện- Bình luận ::
  •   Phía trước của truyện ngắn
  •   Văn học dành cho giới trẻ: Viết theo xu thế, đọc theo phong trào
  •   Độc giả, động lực để nhà văn cầm bút?
  •   Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ngừng viết
  •   Nhà văn Phạm Việt Long: Nhà văn cần trái tim nóng , cái đầu lạnh
  •   Cái chết của chủ nghĩa hậu hiện đại và xa hơn
  •   "Vớt" sách
  •   Ngày sách Việt Nam 2014: Đất văn hiến đắm mình trong thế giới của sách
  •   Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Garcia Marquez cảnh báo chúng ta về tương lai
  •   Tài năng đến từ sự trải nghiệm cuộc sống
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net