Lại Nguyên Ân
XÁC ĐỊNH LẠI THỜI ĐIỂM CÔNG BỐ LẦN ĐẦU
BÀI THƠ “TÌNH GIÀ”
Lâu nay, nói về phong trào thơ mới tiếng Việt đầu thế kỷ XX, làng văn làng báo nước ta gần như hoàn toàn nhất trí lấy ngày 10/3/1932 làm ngày mở đầu “thơ mới”. Chúng ta đều dựa vào Hoài Thanh, người đã khẳng định cái mốc ấy, vào năm 1941, khi viết: “Nhưng một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 Mars 1932”; và ông chú thích rõ dưới chân trang: “Tức là ngày xuất bản tờ Phụ nữ tân văn số 122 trong ấy có bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ.” (Một thời đại trong thi ca // Thi nhân Việt Nam 1932-1941, bản tái bản, Hà Nội: Nxb. Văn học, 1988, tr. 22).
Sự ghi nhận như trên cũng có nghĩa là: nếu chúng ta biết được rằng bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ đã từng được công bố sớm hơn, thì mặc nhiên, điểm khởi đầu “thơ mới” cũng phải được tính sớm hơn.
Quả vậy. Việc được đăng tải trên tuần báo Phụ nữ tân văn số 122 ở Sài Gòn ngày 10/3/1932 không phải là lần ra mắt đầu tiên của bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ, − bài báo mà trong đó Phan Khôi đề xướng “thơ mới” và đưa bài thơ Tình già của mình ra như một thí dụ. Bởi vì trước đó ở Hà Nội, ngày 17/2/1932 trên tờ Đông tây của chủ nhiệm Hoàng Tích Chu đã có bài của ký giả Thượng Minh Đôi lời về lối thơ mới của Phan Khôi; ngay câu mở đầu, Thượng Minh cho biết: ông đã được “xem bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ của Phan tiên sinh, đăng trong Tập văn mùa xuân của Đông tây” . Sau đó, người ta thấy ý kiến Thượng Minh đã được Phan Khôi trả lời bằng bài Về lối thơ mới sau bài “Tình già”: Vừa mở ra đã có người lo cột lại! cũng đăng Đông tây ngày 12/3/1932 (tức là chỉ 2 ngày sau khi bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ được đăng [đúng ra là đăng lại] trên Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn).
Vậy thì điều cốt yếu là chúng ta phải tìm ra Tập văn mùa xuân của Đông tây, nơi đăng tải lần đầu bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ.
Người đọc tinh ý, xem Phụ nữ tân văn số 122, sẽ thấy trang cuối bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ, trang 16, còn dư khá nhiều giấy, tòa soạn dùng để in 4 khung quảng cáo, trong đó có khung quảng cáo 3 ấn phẩm của Tân Việt Nam thư xã ở Hà Nội (mà P.N.T.V. làm đại lý tại Sài Gòn), gồm 2 cuốn sách dịch “Vô gia đình”, “Đông Châu liệt quốc” và “Tập văn mùa xuân của Đông tây”.
Nhưng cách gộp vào đó có lẽ là tiện cho việc quảng cáo, chứ thật ra, Tập văn mùa xuân không phải là sách của Tân Việt Nam thư xã. Có thể gọi nó là giai phẩm xuân hoặc phụ trương tết của báo Đông tây. Điều gây khó cho hậu thế là, trong lưu trữ của Thư viện quốc gia ở Hà Nội, các phụ trương báo tết thường không được đóng trong cùng bộ sưu tập báo chính. Tôi có chút kinh nghiệm mươi năm trước, khi tìm số tết 1946 cho bán nguyệt san Tiên phong: không có thông tin gì ở khu vực báo, đành mò sang khu vực sách, và rồi cũng tìm thấy cuốn Nguồn sống mới chính là mấy số đang thiếu trong bộ sưu tập Tiên phong. Lần này cũng vậy, rốt cuộc ở khu vực sách, tôi đã tìm thấy Tập văn mùa xuân của báo Đông tây, xuất bản vào dịp đầu xuân 1932.
Nếu báo Đông tây dùng khổ rộng 60x45cm, thì phụ trương tết này lại dùng khổ nhỏ 32x20cm, gồm 24 trang ruột và 4 trang bìa; chỉ có giấy in là cùng loại in báo Đông tây. Có lẽ vì muốn tiết kiệm nên dù ở chân bìa 1 có in sai là “Tập văn mùa xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thìn” nhưng vẫn để nguyên, chỉ ở bìa 2 mới đóng khung đăng cải chính: “Tập văn muà xuân này xuất bản đầu năm Nhâm Thân (1932) chứ không phải đầu năm Nhâm Thìn như đã in lầm ở bìa vậy. Nay cải chính”! Bài vở trong tập này là sự góp mặt của những cây bút như Hoàng Tích Chu, Ngym, Nhị Lang, Nam Hương, Trịnh Đình Rư, Trúc Đình, Đặng Trọng Duyệt, Vi Huyền Đắc, Thượng Minh, Vũ Bằng, Đại Thanh,… và tất nhiên có Phan Khôi: ông góp đến 2 bài, tổng cộng 4 trang: bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ, và một bài bình luận thời sự, viết về chuyến bay mở đường của hai phi công Pháp Codos và Robida khởi hành từ Marseille sáng 5/1/1932, qua Athènes, Alleep, Bassorah, Karachi, Calcutta, Bangkok, đến 15 giờ ngày 11/1/1932 hạ cánh xuống sân bay Bạch Mai; – chuyến bay tìm lộ trình ngắn từ Marseille sang Hà Nội, chứng tỏ chính phủ Pháp đương thời rất chú ý rút ngắn con đường từ chính quốc đến cái “bao lơn trên Thái Bình Dương” là xứ Đông Dương thuộc Pháp!
Bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ đăng Tập văn mùa xuân của báo Đông tây có cái hay cho người đọc là ở đấy vẫn còn khoảng trên 100 từ mà khi Phụ nữ tân văn đem đăng lại sẽ bị kiểm duyệt bỏ đi mất, như người ta đã biết. Ta sẽ thấy rằng, những gì Phan Khôi nói về bài thơ Dân quạ đình công của mình, sẽ đều bị sở kiểm duyệt ở Sài Gòn buộc xóa đi khi in lại trên Phụ nữ tân văn. Liên quan với bài thơ ấy, ta sẽ rõ ý Phan Khôi về thí nghiệm lần trước: cái mới của đề tài chưa phải mới thật sự.
Xin dẫn lại đoạn có xen lẫn những câu chữ sẽ bị kiểm duyệt bỏ khi đăng P.N.T.V. như sau (những chữ tô xanh là chữ bị bỏ khi in P.N.T.V.):
[……..]
Duy tân đi! Cải lương đi! À, có rồi chứ có phải không đâu. Thí dụ như bài thơ:
Dân quạ đình công
…………………………..
Bài ấy của tôi đã đăng trong Đông Pháp thời báo năm 1928, được nhiều người hoan nghênh, kể cũng đáng cho là một ngôi sao chổi giữa trời thơ! Cho đến ngày nay tôi đọc lại vẫn còn nhìn là được, nhưng thích thì tôi không thích.
Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài Dân quạ đình công đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.
Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài Dân quạ đình công đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với … người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.
Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như: TÌNH GIÀ [….]
Như vậy, đến đây có thể khẳng định: bài Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ đã được Phan Khôi đưa đăng trong Tập văn mùa xuân của báo Đông tây ở Hà Nội trước, sau đó mới đăng Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn. Thời điểm đăng Phụ nữ tân văn là rất xác định (10/3/1932), vì gắn với ngày xuất bản ấn phẩm định kỳ. Còn ngày ra mắt một giai phẩm hay phụ trương thì ít nhiều bất định, lại không in ngày phát hành lên ấn phẩm nên càng khó xác định. Vậy là phải phỏng đoán. Ngày nguyên đán (mồng 1 Tết) Nhâm Thân vào ngày 6/2/1932. Một ấn phẩm bán vào dịp Tết chắc chắn phải phát hành trước Tết ít nhất là một tuần. Như vậy có thể dự đoán Tập văn mùa xuân Nhâm Thân 1932 của báo Đông tây phải được phát hành vào cuối tháng 1/1932.
Vậy, điểm khởi đầu phong trào “thơ mới” hay là cuộc “cách mệnh về thi ca” tiếng Việt – nói bằng chữ của Hoài Thanh – cũng nên được đánh dấu bằng điểm khởi đầu tại Hà Nội vào mùa xuân Nhâm Thân 1932, nếu cộng đồng văn học Việt Nam tiếp tục gắn tín hiệu đó với sự xuất hiện bài báo Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi.
Hà Nội, 23/9/2009
Lại Nguyên Ân
-----------------------------------------------------------------------------------------------
Phụ lục :
- Ảnh các trang bìa 1, bìa 2, trang 6-7 Tập văn mùa xuân của báo Đông tây (gửi tách rời)
- Bản đánh máy 2 bản A (đăng Tập văn mùa xuân) và B (đăng Phụ nữ tân văn) :
Bản A :
MỘT LỐI “THƠ MỚI” TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG THƠ
Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn. Trong khi nói chuyện, ông nhắc đến mấy bài Trúc chi từ của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình đã dịch nó ra tiếng Pháp. Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn.
Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói dỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là có ý nghĩa. Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo. Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sinh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp.
Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ. Thật, cái động cơ viết bài này là chính ở mấy lời của ông.
Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có.
Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được dăm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm. Mà dăm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, kể cũng như là không có.
Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!
Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi.
Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!
Duy tân đi! Cải lương đi! À, có rồi chứ có phải không đâu. Thí dụ như bài thơ:
Dân quạ đình công
………………………….. [*]
Bài ấy của tôi đã đăng trong Đông Pháp thời báo năm 1928, được nhiều người hoan nghênh, kể cũng đáng cho là một ngôi sao chổi giữa trời thơ! Cho đến ngày nay tôi đọc lại vẫn còn nhìn là được, nhưng thích thì tôi không thích.
Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài Dân quạ đình công đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.
Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài Dân quạ đình công đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với … người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.
Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như:
TÌNH GIÀ
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”
……………………………………………………….
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;
Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!
Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ.
Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy. Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại.
Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một nơi đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa; nhưng tôi tin rằng sau này có người sẽ làm như tôi mà thành công.
PHAN KHÔI
Tập văn mùa xuân. Báo Đông tây xuất bản, Hà Nội,
Tết Nhâm Thân 1932, tr. 6-7.
---------------------
[*] Bài báo để chấm lửng chứ không in kèm bài thơ. Dưới đây là toàn văn bài thơ Dân quạ đình công của Phan Khôi đăng Phụ trương văn chương của Đông Pháp thời báo số 726 (2. 6. 1928):
Mồng bảy tháng Bảy năm Canh Thân,
Chiếu lệ bắc cầu sang sông Ngân.
Hằng hà sa số cu li quạ,
Bay bổng về trời dường trảy quân.
` Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,
Con thì kêu đói, con kêu nhọc.
Đường sá xa xuôi việc nặng nề,
Phần lũ con thơ ở nhà khóc.
Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,
Nào con đầu cúi, con lưng cong,
Thêm thầy huyện Bẻo đứng coi việc,
Đụng đâu đánh đó như bao bông.
Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt !
Làm có, ăn không, chết chó chết !
Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe,
Một con bay lên đứng diễn thuyết :
"Hỡi đồng bào, nghe tôi nói đây !
Dân quyền thạnh nhứt là đời nay,
Việc mà chẳng phải việc công ích,
Không ai có phép đem dân đày.
Trối kệ Hoàng Ngưu với Chức Nữ,
` Qua được thì qua, không thì chớ ;
Quốc dân Ô Thước tội tình gì,
Mà bắt xâu bơi làm khổ sở ?
Anh em ta hè, về quách thôi ! "
Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,
Động trống đăng văn ầm đế tọa,
Ngai vàng bệ ngọc rung rinh, rơi.
Có tin dân quạ nổi cách mệnh :
Trời sai thiên lôi ra thám thính,
Đầu đen máu đỏ quyết hi sinh.
Ngừng búa, thiên lôi không dám đánh.
Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,
Đánh chữ đại xá Trời ban tha ;
Dân quạ ở đâu về ở đó.
Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.
Ờ té ra :
Mềm thì ai cũng nuốt,
Cứng thì Trời cũng nhả !
Hằng hà sa số cu li quạ,
Bay về hạ giới kêu "khá khá".
(đã in trong: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nxb. Đà Nẵng, 2003, tr. 305-306)
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản B :
MỘT LỐI THƠ MỚI TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG THƠ
Mới đây, tôi có được gặp ông Phạm Quỳnh ở Sài Gòn. Trong khi nói chuyện, ông nhắc đến mấy bài Trúc chi từ của tôi đã làm trên sông Hương khi gặp người bạn cũ là ông Nguyễn Bá Trác ở ngoại quốc mới về; ông Phạm tỏ ý khen mấy bài đó và nói chính mình đã dịch nó ra tiếng Pháp. Sau hết, ông khuyên tôi nên giữ cái thái độ ngâm thơ như hồi đó thì hơn.
Lời khuyên của ông Phạm đó, dầu là lời nói dỡn đi nữa, với tôi, tôi cũng phải nhìn là có ý nghĩa. Nhưng sau khi nghe lời ấy, tôi chỉ có thể gật đầu mà làm thinh, không dám vội vàng tỏ ra mình đã vui lòng lãnh giáo. Vì con người ta mà muốn thay đổi cách sanh hoạt về tinh thần, lại còn khó hơn chánh phủ thay đổi cái chế độ giáo dục hay chế độ nấu rượu nữa, không phải việc chơi đâu mà hấp tấp.
Duy có vì nghe lời ông đó mà tôi nhớ sực lại sự làm thơ. Thật, cái động cơ viết bài này là chính ở mấy lời của ông vậy.
Ông Phạm bảo tôi nên lấy lại cái thái độ ngâm thơ hồi trước, trong đó tỏ ra rằng bấy lâu tôi đã bỏ mất hay là đã đổi cái thái độ ấy đi, nghĩa là bấy lâu nay tôi không ngâm thơ. Mà quả thế, gần mười năm nay tôi không có bài thơ nào hết, thơ bằng chữ gì cũng không có.
Trước kia tôi dầu không có tên tuổi trong làng thơ như ông Nguyễn Khắc Hiếu, ông Trần Tuấn Khải, song ít ra trong một năm, tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng Nôm. Mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được. Vậy mà gần mười năm nay mót lắm chỉ được một vài bài mà thôi, thì kể cũng như là không có.
Xin thú thật với mấy ông thợ thơ. Không có, không phải tại tôi không muốn làm hay không thèm làm, nhưng tại tôi làm không được!
Vậy thì hiện nay, đừng nói tôi không chịu nhận lời khuyên của ông Phạm, dầu cho tôi nhận đi nữa, mà tôi không còn làm thơ được, thì ông mới xử trí cho tôi làm sao? Đó, chính cái vấn đề ở đó rồi.
Lâu nay, mỗi khi có hứng, tôi toan giở ra ngâm vịnh, thì cái hồn thơ của tôi như nó lúng túng, chẳng khác nào cái thân của tôi là lúng túng. Thơ chữ Hán ư? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi rồi. Thơ Nôm ư? Thì cụ Tiên Điền, bà huyện Thanh Quan đè ngang ngực tôi, làm cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói, lại nói ra được nữa, thì đọc đi đọc lại, nghe như họ đã nói rồi. Cái ý nào họ chưa nói, mình muốn nói ra, thì lại bị những niêm, những vận, những luật bó buộc mà nói không được. Té ra mình cứ loanh quanh lẩn quẩn trong lòng bàn tay của họ hoài, thật là dễ tức!
Duy tân đi! Cải lương đi!
(bị bỏ một đoạn dài)
Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, ………………………………….. cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.
Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu ……….
Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết. Ấy là như:
TÌNH GIÀ
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”
……………………………………………………….
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;
Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyên cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi,
Đó là bài thơ tôi làm trước đây vài tháng, mà tôi kêu là một lối thơ mới đó. Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới; mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên tôi mới đem ra mà trình chánh giữa làng thơ.
Chẳng phải tôi là người thứ nhứt làm ra việc nầy. Hơn mười năm trước ở Hà Nội cũng đã có một vị thanh niên làm việc ấy mà bị thất bại.
Tôi dại gì lại đi theo cái dấu xe đã úp? Nhưng tôi tin rằng cái lối thơ của ta đã hết chỗ hay rồi, dường như một chỗ đế đô mà cái vượng khí đã tiêu trầm rồi, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô. Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau nầy có người làm như tôi mà thành công.
PHAN KHÔI
● Nguồn: Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10/3/1932), tr. 15-16.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài đã đăng báo Văn nghệ Trẻ số 40 - 2009
Trên đây là bản đầy đủ
Phongdiep.net