Lady Borton (Hoa Kỳ)
Giữ được hồi ức, giữ được văn
Một chiều xuân, giữa hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, bữa tối đến trong tiếng nhạc có phần ồn ĩ trên nền quan khách khá là trầm mặc. May cho tôi là được xếp ngồi cạnh bà Đặng Anh Đào. Giáo sư Đào, hiện đã nghỉ hưu, là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có hồi ký Tầm Xuân (Nxb. Hội Nhà Văn, 1999, 2006). Tôi muốn hỏi Giáo sư Đào xem bà có nhớ gì về lần đầu tiên Hồ Chí Minh tới thăm nhà bà vào năm 1945. Đó là không lâu sau khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ngày ấy, cô bé Anh Đào mới 11 tuổi.
Rất may là bà Anh Đào vẫn còn nhớ. Bà giải đáp cho tôi một câu hỏi về học thuật, đồng thời cung cấp một hình ảnh tuyệt vời về quan điểm đối với văn học của chính quyền cách mạng Việt Nam năm 1945.
Tôi tận hưởng cái thú đến từ sự trùng hợp, là nhiều cuộc họp của Hội nghị quốc tế về văn học Việt lần này diễn ra trên con đường mang tên Đặng Thai Mai, cha của bà Anh Đào. Đặng Thai Mai là văn hào cách mạng nổi tiếng, đồng thời từng là thày và là người hướng đạo (mentor) cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ.
Khi dịch cuốn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ của Hồng Cư (NXB Thanh Niên 2004, 2008, 2009) sang tiếng Anh, tôi được biết rằng đầu năm 1929, Đặng Thai Mai, cùng với Nguyễn Chí Diểu và Võ Nguyên Giáp đã thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên trong khuôn khổ Tân Việt Cách mạng đảng. Tân Việt chỉ ít lâu sau sẽ chuyển biến thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, để rồi vào dịp Tết 1930, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, sẽ cùng với hai nhóm cộng sản nữa hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam (Huy: in Hong Kong not needed). Cùng năm 1930, vào cuối năm, Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp gặp nhau trong khám tù chính trị ở Huế.
Ra tù, đầu những năm 1930, Võ Nguyên Giáp đến ở nhà thày Mai tại Hà Nội, nơi Đặng Thai Mai còn nuôi một số trò khác ăn học… Cuối năm 1945, từ chiến khu trở lại Hà Nội, Võ Nguyên Giáp thỉnh thoảng lại xuất hiện ở nhà Đặng Thai Mai, hy vọng sẽ lấy cô gái lớn của thày giáo làm vợ. Rồi Đặng Bích Hà trở thành vợ ông, từ đó tới nay đã được 65 năm.
Ký ức của một người con khác, bà Đặng Thị Hạnh, giáo sư văn học Pháp đã nghỉ hưu cũng cho biết những chi tiết thú vị về căn nhà gia đình đã ở năm 1945, nay thuộc trường Trưng Vương trên phố Hàng Bài. Chính tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp lại chị gái của Người, bà Nguyễn Thị Thanh, lần đầu tiên sau hơn ba thập kỷ. Hồ Chí Minh còn dùng địa chỉ này để gặp gỡ một số nhân vật quan trọng của nước Việt Nam trong năm đầu độc lập. Giáo sư Hạnh, lúc đó mới 15 tuổi, chia sẻ với tôi những ký ức trẻ con về những “chuyện quan trọng của người lớn” giữa Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, cha của bà… và các vị lão thành khác. Bà giãi bày những cảm nhận đó của mình trong hồi ký Cô bé nhìn mưa (Nxb. Phụ nữ, 2008).
Giữa tiệc chiêu đãi của Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt, em của giáo sư Hạnh, giáo sư Đặng Anh Đào cũng giãi bày với tôi cảm nhận của mình về thời kỳ ấy, khi mới hơn mươi tuổi đầu. Đặc biệt, bà còn nhớ cách Hồ Chí Minh thưởng quà cho những người con của Đặng Thai Mai.
Bà Anh Đào kể rằng Hồ Chí Minh bảo chị em bà đứng thành hàng, đứng đầu là chị cả Bích Hà, và cuối cùng là em út. Nhưng Người không tặng quà theo kiểu bình quân, mà mỗi lân theo một chỉ tiêu. Chẳng hạn, “cháu nào viết chữ đẹp nhất nào?” Lúc đó, Bích Hà sẽ phải miễn cưỡng đứng sang một bên để nhường cho Hạnh lên nhận huy hiệu.
Nhưng có lần mọi sự đơn giản hơn. Hồ Chí Minh hỏi “ai bé nhất nào?”. Vì hai người con út của Đặng Thai Mai lúc đó còn nhỏ đến mức chưa được dự một cuộc “bình bầu” như vậy, Anh Đào đã được nhận chiếc huy hiệu của Người.
“Cái huy hiệu nhỏ lắm,” bà Anh Đào nói. Bà dùng ngón trỏ và ngón cái để mô tả kích cỡ của một đồng 2000 VNĐ bằng kim loại. “Chỉ bằng thế này. Có chân dung của Hồ Chủ tịch. Nhỏ lắm. Giành cho trẻ em. Xinh lắm”. Bà lặng đi giây lát, bâng khuâng nhìn khắp phòng. nơi quan khách vẫn đang chụm đầu nói chuyện với nhau rất tâm đắc. “Nhiều năm trước”, Anh Đào nói tiếp, “tôi đã đánh mất chiếc huy hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng tôi, nhưng tôi vẫn nhớ nó, như in, trong tâm tưởng”.
“ồ, tôi sực nhớ, vẽ một hình trong sổ của mình. “Có phải cái huy hiệu trông thế này không?”
Anh Đào nhìn hình tôi vừa vẽ, “Đúng”, bà nói. Dùng bút, bà tô đậm vành xung quanh của hình vẽ chiếc huy hiệu Hồ Chủ tịch. “Đúng, viền xung quanh thế này. Chính là chiếc huy hiệu Bác Hồ thời ấy”.
“Đầu năm ngoái,” tôi nói, “tôi tìm được ảnh chụp những biểu hiệu bằng sắt trong một chiếc hộp thuộc Lưu trữ thuộc địa ở Aix-en-Provence. Thư mục chứa chúng mang tên là “Ho-Chi-Minh--Années1949-1953,” cho dù nó chỉ thể hiện thời điểm mật vụ Pháp tìm thấy tài liệu. Nhưng không ai trong số người Hà Nội tôi hỏi biết được huy hiệu ấy đã dùng ở đâu. Tôi sẽ gửi copy của những chiếc huy hiệu ấy, để chị xem có phải đúng nó là cái chị từng được Cụ Hồ thưởng?”
Mấy ngày sau, tôi nhận được thư điện tử của bà Anh Đào nói đúng là loại huy hiệu ấy. Chiều hôm ấy, khi xem ảnh chụp chiếc huy hiệu, bà Hạnh gật đầu. Đó đúng là chiếc huy hiệu từng in vào tâm não của ‘tứ nữ” - bốn người con gái đầu của Đặng Thai Mai, kể từ thời Hà Nội bùng lửa kháng chiến hơn sáu chục năm về trước.
Tôi hỏi bà Hạnh vì sao quân Pháp lại tìm thấy những tấm huy hiệu nhỏ ấy ở tận trong Mỹ Tho, một tỉnh thuộc Nam Bộ.
“Vì các anh đã Nam Tiến từ rất sớm”. Bà Hạnh đáp, trầm ngâm.
Ngay trong ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, người Pháp đã gây hấn ở Sài Gòn. Bà Hạnh lúc ấy đã là một thiếu nữ tuổi 16. Bà ngậm ngùi nhớ rằng nhiều thanh niên miền Bắc đi đánh Pháp ở Nam Bộ đã không mang theo thứ gì trong hành trang của họ, ngoài tấm huy hiệu Bác Hồ. Vào trận đánh kéo dài tới 30 năm, nhiều người đã nằm lại đất Nam Bộ, mãi mãi không về.
Yến tiệc chiều ấy tàn dần, khi tôi và Anh Đào nhấp nháp những ngụm chè. Buổi họp mặt của các tác giả và dịch giả vẫn là một bản hợp xướng ngẫu hứng của đủ các ngôn ngữ nghe như hát: tiếng Việt, tiếng Hoa, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Ba lan, tiếng Bồ, tiếng Rumani, tiếng Began, tiếng Đức … những tâm sự, chuyện trò, và cả những thảo luận về sách, vẫn sôi nổi không dứt.
“Giáo sư Đào,” tôi đề nghị, “tôi muốn biết ký ức sâu đậm nhất về ngày gia đình chị tản cư khỏi
Hà Nội cuối năm 1946”. Tôi biết rằng lúc đó, Chính phủ đã rút về Việt Bắc, nơi mà ATK đã được thiết lập từ trước cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên Đặng Thai Mai lại đi theo hướng ngược lại, về Thanh Hoá nơi ông sẽ làm Chủ tịch tỉnh một thời gian, trước khi đề đạt với Chính phủ cho chuyển hoàn toàn sang công tác về văn nghệ.
“Gia đình tôi tản cư khỏi Hà Nội vào tháng 11, 1946”. Anh Đào trả lời. “Trước khi Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Chị Bích Hà lúc này đã thành hôn với anh Giáp và họ cùng đi về căn cứ kháng chiến ở Việt Bắc. Ba mẹ và chúng tôi thì đi về Thanh Hoá. Nhà nước cho hai chục dân công chuyển thư viện của ba tôi.”
“Thật ư?” tôi hỏi lại. Tôi biết rằng ngày ấy dân công đã chuyển 40 ngàn tấn máy móc khỏi Hà Nội và gồng gánh thứ hàng chiến lược - muối - từ đồng bằng lên miền núi phía bắc. “Hai mươi người dân công gánh sách của thư viện Giáo sư Đặng Thai Mai?”
“Hai chục người”, giáo sư Đặng Anh Đào khẳng định. Bà phác hình một người dân Việt đội nón, gồng vai gánh hai thúng, trên đó bà ghi “sách”. “Ba tôi xếp vào thúng những cuốn sách chữ Hán, chữ Nôm, và tiếng Pháp. Các sách này đều thuộc loại hiếm, hoặc là bản duy nhất. Ông đã phải để lại các sách bằng quốc ngữ. Sách tiếng Việt có thể còn tìm được. Hai chục dân công đã gồng gánh thư viện của cha tôi ra ga xe lửa. Tiếc rằng quân Pháp đã cắt đường xe lửa Hà Nội Thanh Hoá. Nhiều cuốn sách đã nằm lại trong một toa hàng rớt lại ở một ga nào đó.”
“Chúng tôi sống ở thành phố Thanh Hoá một thời gian ngắn. Tôi còn nhớ đã được đứng cạnh Hồ Chủ tịch hôm 20 tháng hai 1947 khi Người kêu gọi người dân Thanh Hoá thực hiện tiêu thổ kháng chiến để chặn bước quân xâm lược Pháp. Khi quân Pháp đánh Thanh Hoá, chúng tôi tản cư lên vùng trung du, rồi lên vùng núi. Khi ở Thanh Hoá, ba tôi hẳn đã có điều kiện mua thêm một số sách tiếng Pháp và tiếng Việt. Mỗi lần di chuyển, chúng tôi cố mang theo thư viện của ba tôi. Nhưng đa số sách trong thư viện vẫn bị mất trong ngàn ấy năm chiến tranh. Gần đây, chúng tôi đã giao số sách của ba tôi còn giữ được cho Thư viện Quốc gia”.
Tôi chợt cảm thấy nhói tim. Tôi nghĩ về những mất mát trong chiến tranh: người thân, nhà cửa, ruộng vườn, sức khoẻ, sự bình an, và nhiều thành quả trong quá khứ. Hơn nữa, chúng ta mất nhiều những gì từng là triển vọng. Nhiều ký ức của cuộc đời chúng ta cũng phai mờ do thời chiến. Chiến tranh còn làm mất nhiều cội nguồn chúng ta vẫn nương dựa, làm sinh lực hao mòn, làm quá thì những hứa hẹn của đời ta, và thu hẹp vận hội của nhiều thế hệ trong chúng ta.
Tuy vậy, tôi vẫn sửng sốt, và xúc động, khi được biết rằng khi tiếng súng chống Pháp của Việt Nam lại rền vang, và khi chính phủ hợp hiến đầu tiên vừa ra mắt đã phải bí mật rời khỏi Hà Nội, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gìn giữ không chỉ kho tàng văn học cổ Việt Nam, mà cả sách văn học của đối phương, viết bằng thứ tiếng của họ.
Tối hôm ấy, giá tiếng nhạc nhỏ hơn, giúp cho trao đổi được thuận lợi hơn, tôi đã có thể nghĩ mình được hưởng lộc trọn vẹn: ấy là một bữa liên hoan ngon miệng, những liên tưởng sâu sắc trên nền dĩ vãng, và một sự liên thông thật đẹp giữa văn học của nhân loại với văn hoá của một dân tộc
Lê Đỗ Huy dịch
1. Nhà văn Đặng Thai Mai và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, khoảng 1983.
2. Gia đình của Nhà văn Đặng Thai Mai, 1962: Ngồi, Bà Hồ Thị Toan và Ông Đặng Thai Mai. Phía sau, các con, từ trái sang phải: Đặng Thị Hạnh, Đặng Bích Hà, Đặng Thai Hoàng, Đặng Xuyến Như, Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào.
Nguồn: Văn nghệ