Tìm kiếm:

Số truy cập: 3647224

 

Trang chủ Diễn đàn Giới thiệu Liên kết

 

LĂNG KÍNH

 

 Chống tham nhũng: muôn đời không ai cho ngóc đầu dậy (VNN)

 

 Khi các quan "ông chẳng bà chuộc" và chuyện Phó Tổng VTV

 

 Tác giả 'Bổ đề Langlands': Tiến sĩ chả có nghĩa lý gì...

 

 Trung Quốc thắng hợp đồng EPC: Hãy phàn nàn chính chúng ta (Nguyễn Quang A)

  

TIÊU ĐIỂM

 

 Hỗn nhập ngôn ngữ, một giải pháp hiện đại hoá tiếng Việt của Phạm Quỳnh

 

 Trả lại tên cho một thi nhân tiền chiến đất Thăng Long

 

 Cú mèo và rượu hoa- Truyện ngắn mới của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

 

 Blogger và những cách tân nghệ thuật

  

 Tuyển sinh đại học hệ chính quy ngành viết văn

  

 Thư mời của PHONGDIEP.NET

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

"Với tôi, thơ là những vọng âm của quá khứ, là cánh đồng chiêm trũng với chiếc nón là dáng mẹ tất tả đường trơn, là thị xã Hà Đông đêm xa nhà trọ học" (Đoàn Đại Trí)

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

"Phan quay cuồng đầu óc. Cô bắt đầy nhìn thấy đám tắc đường phía trước có mầu khê vàng và bốc mùi khét lẹt. Những chóp mũ bảo hiểm nghi ngút khói." (Thời gian tối đa, truyện ngắn của Phong Điệp)

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

TÁC

PHẨM

& 

LUẬN

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)
Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Đường Văn

Đá rơi

                            

Truyện ngắn Hoàng Minh Đức

 

                           Đá rơi

                                                         

 1*     Một đoàn xe tải chở đầy đá lèn, nối đuôi nhau lao qua trước cửa nhà Dư. Xuống hết dốc này, lái xe phải rú ga tăng tốc vượt dốc Lì nên đá rơi nhiều lắm. Những hòn đá được xay, giũa tròn cạnh, tràn qua thành xe rơi xuống lòng đường. Có những chuyến xe cát và đá lọt qua lỗ thủng, rải thành những vệt dài. Từ ngày công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi đầu tư xây dựng Hòn Ngư thành khu du lịch, người ta mới mở con đường này. Con đường chạy ngoằn ngoèo theo triền đồi. Một bên là đồi cây, một bên là những ngôi nhà dân thưa thớt.

 

      Mỗi ngày vài chục chuyến xe chạy về công trường, đá rơi vung vãi tung toé hai bên đường, vợ chồng Dư cào được vài ba tạ.

      Một bữa, Dư đang cào đá thì nghe tiếng còi. Một người đàn ông da trắng, mập ú trên chiếc xe con đi đầu bước xuống. Anh ta xoi mói ngắm nghía anh từ đầu đến chân: “Cám ơn anh. Mai mốt hoàn thành công trình, chúng tôi sẽ cho chữa lại con đường. Đường sá gồ ghề như hồi chiến tranh ấy. Cái dốc nghiêng gắt quá. Hôm nọ suýt nữa tôi bị lật nhào xe xuống cái dốc cua chết tiệt này”.

     Khu du lịch Hòn Ngư được xây dựng xong. Tờ báo tỉnh dành cả trang nhất cho sự kiện quan trọng này. Từ nay khu du lịch sẽ mở ra một tiềm năng mới. Nó sẽ thu hút du khách trong nước đến tham quan và tắm biển. Trong niềm hân hoan, ông giám đốc công ti Thành Lợi xin thuê đám đất Dư mới nhổ sắn xong làm bãi chứa đá để nâng cấp con đường. Hai hôm sau họ đổ xuống hai chục xe đá trên đám đất nhà Dư.

      Năm năm trôi qua, con đường xuống cấp, lở loét ổ trâu, ổ gà. Vợ chồng Dư cũng đã nuôi được một cặp bò. Bán bò, Dư bàn với vợ: “Chắc là họ đã quên rồi. Sẵn cát đá ta mượn tạm xây nhà. Nếu khi nào họ đòi, ta trả lại sau”. Mai nói: “Chắc là họ chạy làng. Dân kinh tế tính toán từng cắc một, con đường nhiều tiền lắm, sức hơi đâu mà họ làm từ thiện. Em nghĩ, họ thấy vợ chồng mình nghèo khổ quá, họ cho đó thôi”.

     Vay mượn thêm anh em họ hàng một ít, Dư và Mai đã xây được một ngôi nhà cấp bốn. Dư cảm ơn cái“dốc cua trời cho” đã cho Dư mấy hòn đá. Anh bỗng phì cười. Hai dốc cua hai quảng đời. Dốc cua lì lợm nằm dưới chân đồi và dốc cua kiêu hãnh trên Cổng Trời - con đường huyền thoại.

 

2*     Tháng 3 năm 1972, đại độị xe tăng K63 - 85 của Dư có nhiệm vụ hành quân từ Quảng Bình sang Lào, vòng về A Lưới, đánh mũi vu hồi vào phía tây thành Huế. Lên đến dốc cua Cổng Trời thì chiếc xe bơi của Dư bị “dở chứng”. Cả nhánh xích phía dưới bị trật ra ngoài hàng bánh tỳ. Nhánh xích phía trên căng lên như một sợi dây đàn. Làm thế nào bây giờ. Máy bay OV10 mà phát hiện được thì B52 kéo đến liền. Bảy chiếc xe tăng đi sau phải lùi lại, tản vào rừng già. Dư cho nối xà beng vào cờ- lê điều xích để tăng cánh tay đòn lực bẩy. Những chiếc búa tạ giáng xuống, chiếc xà beng rung lên bần bật. Các chiến sĩ giữ xà beng hai bàn tay phỏng rộp, nhánh xích vẫn cứ nằm lì. Tiến không được, lùi không xong, đại đội trưởng thanh niên xung phong hiến kế: “Hay ta bạt núi mở rộng một lối đi cho các xe sau vượt qua”. Vô vọng. Bắn bộc phá để bẩy cả khối đá vôi khổng lồ ấy xuống cũng mất cả tháng trời. Mà núi đá sập xuống biết đâu sẽ vùi mất xe.

 

      Đã hai ngày đêm họ phải nằm lại cái dốc cua lên Cổng Trời. Đêm đến, muỗi bay hàng đàn, những con vắt xanh uống no máu người, tròn vo lăn xuống đế giày. Cậu Hưng pháo thủ số một văng cục: “Cho vài yến bộc phá  nổ tung mẹ nó đi.”. “ Hay! Ta thử dùng bộc phá đánh đứt xích. Đã có trường hợp vành răng bánh chủ động của xe bơi PT 76 chọc thủng cả mắt xích mà anh em trước dùng bộc phá để xử lí trường hợp này. Liều thôi!” - Đại đội trưởng nói.

     “Dùng bộc phá cắt xích ra để nối”. Anh em hội ý, nhất trí dùng bộc phá. Một cô thanh niên xung phong hăng hái: “Để em đánh bộc phá cho”. Cả kíp xe quay lại.

 

     “Việc đánh mìn là nghề của cô ấy. Cô là chuyên gia”- Anh đại đội trưởng thanh niên xung phong giải thích với mọi người. Cô gái tra kíp vào thỏi thuốc nổ TNT 0,5 kg rồi đặt bộc phá vào mặt dưới nhánh xích, giữa bánh dẫn xích với bánh tỳ thứ nhất. Mọi người tản ra. Cô đốt dây cháy chậm xong, vừa chạy vừa ngoái cổ lại nhìn.

     - ầm! Tiếng nổ lan xa. Rừng cây chuyển động rào rào. Vài hòn đá trên núi đá vôi lăn xuống. Cô gái ngã sấp xuống lòng đường. Mọi người xúm lại. “Không việc gì, cô vấp hòn đá”.

 

     Dư chạy về phía xe tăng và reo lên: “ở tai xích có một vết nứt khá to”. Mọi người thay nhau quai mấy tạ nữa thì đứt hẳn. Đơn vị vui mừng quên cả việc hỏi xem cô gái tên gì.

 

3*     Mùa xuân bảy lăm, lữ đoàn của Dư tiến về Sài Gòn. Khi đến bìa rừng cao su thì xe anh bị trúng đạn. Một quả đạn M72 của địch bố trí trong rừng cao su bắn ra. Anh phải nằm phẩu thuật ở trạm quân y tiền phương, sau đó chuyển về bệnh viện 115 khi Sài Gòn giải phóng.

     Một bữa anh đang tập tểnh đi trên sân bệnh viện thì một cô hộ lí chạỵ lại: “ Anh Dư! Em mới chuyển ngành về bệnh viện này”. Hai anh em ôm choàng lấy nhau. Dư cũng đã nhận ra cô thanh niên xung phong dạo trước ở Cổng Trời. “Tên em là gì? Sao em biết tên anh?”. “ Thì hồi đó các anh ấy chẳng gọi tên anh là gì.” Hai người buông nhau ra và cùng cười phá lên. “ Em tên là Mai. Cái Na đánh bộc phá cho các anh hồi ấy đã hi sinh rồi”- Mai trầm hẳn xuống. Một thời đạn bom gặp nhau trong khoảnh khắc đã trở thành ruột thịt.

 

      Mấy ngày sau, Dư nhờ Mai đi bưu điện gửi giúp anh lá thư về trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Giáo sư Vương báo cho Dư biết Liễu đã ra trường, đang công tác ở một tờ báo thủ đô. Mấy lá thư sau Dư gửi cho Liễu theo địa chỉ thầy Vương cho đều bị trả về, không có người nhận. Ngày xưa Liễu say anh lắm. Anh là tâm điểm săn đón của những cô nàng trong lớp. Hồi đó, anh đã nổi tiếng bởi những truyện ngắn đăng trên báo văn nghệ.

 

      Điều trị xong, Dư ra trường học tiếp. Một cậu bạn ra đi cùng khoá cho Dư biết Liễu đã lấy chồng. Chồng của Liễu, con một ông to ở ngay Hà Nội. Loại người ấy Dư chẳng thèm gặp lại làm gì. Anh đã biết vì sao những lá thư bị trả lại. Ra trường anh xin vào công tác ở một tỉnh phía Nam. Anh làm thư kí toà soạn một tờ văn nghệ địa phương. Anh đã giật được một giải nhì của một cuộc thi truyện ngắn và vài ba giải kí.

 

      Năm 1991 hai vợ chồng anh về nghỉ chế độ 176. Anh viết Văn, còn Mai nuôi thêm con lợn con gà. Họ nhận khoán dự án trồng rừng 327. Thời buổi kinh tế thị trường, viết văn không đủ sống. Mấy cuốn tiểu thuyết xuất bản không có người mua. Bán một nửa, cho không một nửa. Mỗi cơ quan, trường học mua cho anh năm cuốn, phải biếu thêm một vài cuốn nữa. Mà nể quá họ mới lấy cho, chứ họ có đọc đâu. Sách xếp từng chồng trong thư viện cơ quan, bụi bặm và mạng nhện phủ đầy. May ra có mấy ông nhà văn, nhà báo đọc của nhau. Nhà nghiên cứu Xuân Hồng- chủ nhiệm khoa Văn trường đại học, tổ chức hội thảo “Bàn về kiến trúc hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phương” vừa mới “ra lò”. Đinh Dư được mời đến đọc tham luận về việc “đổi mới phương pháp sáng tác”. Anh nói trong nước mắt: “Văn chương khó hiểu không ai đọc nổi đâu các đồng chí ạ! Văn thơ giờ bán cho trời. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như tôi, xin tiền vợ ra được một tập sách, bù lỗ, về nhà không dám nhìn mặt vợ con. Cái nghiệp văn chương, say mà viết chứ đi bán nhục nhã lắm.”. Nghe Dư phàn nàn đến khổ sở, nhà nghiên cứu Xuân Hồng kêu gọi:“ Số lượng người có văn hoá đọc rất ít. Thời đại thông tin bùng nổ, phương tiện nghe nhìn nhiều. Tôi đề nghị anh em mỗi người lấy cho anh Đinh Dư một cuốn”. Trong phút chốc lô sách Dư mang theo bán hết. Riêng Xuân Hồng mua một cuốn, trả tiền hai.

 

 4*     Đại hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, Dư lại cho ra một tập sách mới. Dư mang chồng sách đến gặp Xuân Hồng. Xuân Hồng bảo: “Ông phải tìm cách tiếp thị bạn đọc đi. Tôi sẽ cho ông đi xem một mô hình. Ông bán không được, tôi vận động sinh viên mua hết cho”.

 

     Dư đi theo Xuân Hồng đến rạp hát Hải Âu. Trong dàn nhạc có tiếng thập thùng của trống, tò te của kèn. Dưới ánh đèn mờ ảo phơn phớt hồng, một tấm biển lớn quảng cáo thằng bé sáu tuổi, hai tay nâng một cuốn sách dày cộp. Trong hội trường, mọi người chen chúc nhau lên bỏ phong bì vào một cái thùng to đặt trên sân khấu. Sau tiết mục múa, màn nghệ thuật trình diển đầy ấn tượng, cô dẫn chương trình đọc lời giới thiệu tập thơ Mưa rơi của nhà thơ “thần đồng”.   

 

      Mấy năm trước, Dư có nghe nói thằng bé sáu tuổi đọc được chữ ngược anh đã hốt lắm rồi, bây giờ anh “mục kỉ sở thị” một nhà thơ “thần đồng” bằng xương bằng thịt với tập thơ dày bốn trăm trang.  

      Thằng bé đầu đội khăn đóng, mặc bộ áo xiêm màu đỏ choét như anh hề trên sân khấu.  Nó đọc gì, nói gì, Dư không hiểu nổi. Khi mọi người đã ra về hết, Xuân Hồng mới dắt tay người dẫn chương trình xuống gặp Dư. Người phụ nữ cười chua chát:

 

    “ Anh có biết thằng bé đó là con nhà ai không? Thằng con mót của bồ ruột anh đấy. Mẹ nó chấp nhận sang tên tập thơ cho con để bố nó cho hai chục xe đá”.

    “ Con của Liễu phải không?”. Dư đứng không vững được nữa, hai tai anh ù đặc, mồ hôi vã ra như tắm.

 

     “ Vâng! Năm bảy tư, trong trường đồn anh đã hi sinh. Liễu lấy con một ông bự ngoài Hà Nội. Mà cũng tại nó muốn ở lại thành phố nữa. Nó bảo đã thấy nhà anh rồi. Bây giờ gặp lại anh, nó xấu hổ lắm”.

     “ Thế tại sao em cũng tham gia vào cái trò chơi quái quỷ này?”  

     “ Trót đã nhúng chàm. Liễu nó phản đối em ghê lắm. Nhưng xét cho cùng, nó cũng như em thôi. Anh tính, con em học xong đại học không có việc làm. Em đi xin việc đâu người ta cũng không nhận. Em đã xin cho nó vào công ti trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi. Những người đến dự hôm nay đều là cán bộ công nhân viên của công ti. Hôm nay có người mua cuốn sách đến chục triệu đồng anh ạ!”.

 

 5*     “Ôi! Những hòn đá. Những hòn đá vung vãi trên con đường đời, ta giơ tay đón lấy để xây lâu đài hạnh phúc”. Đột nhiên anh thấy nhớ da diết con đường Trường Sơn. Anh  thấy nhớ những đồng đội thân thương. Anh nhớ tới những thanh niên xung phong đã gửi lại tuổi hai mươi cho con đường trở thành bất tử. Chính lúc này đây, anh mới thấy mình bé nhỏ vô cùng. Anh sẽ viết về những con đường xuyên qua núi đá vôi, băng qua suối sâu, vực thẳm. Những con đường cõng trên lưng hàng binh đoàn tiến ra mặt trận. Anh sẽ viết về những chiếc xe tăng - mũi đột kích của binh chủng Tăng -Thiết giáp trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Anh sẽ viết về đại lộ Hồ Chí Minh hôm nay- con đường huyền thoại.

 

      Và. Anh sẽ viết về những hòn đá đang rơi.   

 

     

           

 

 Xuân muộn    

                                                                            

      Chuyến tàu Thống Nhất ngày mồng một tết chẳng có mấy khách. Một chàng trai vai mang ba lô, ôm cành đào Nhật Tân lên ngồi sát cạnh tôi.  Cùng đi với anh là một người phụ nữ đã có tuổi.

      Một nhân viên đẩy xe phục vụ đi qua, chàng trai mua hai tách cà phê rồi mời tôi. Nhìn phù hiệu với chiếc xe tăng trên ve áo của chàng thiếu uý tôi biết anh ở binh chủng Tăng- Thiết giáp.

 

     - Cháu là lính Thiết giáp. Tôi bắt chuyện.

     - Vâng! Cháu đi theo nghiệp của bố cháu. Bố cháu đang công tác ở trường 700.

     - Thế thì chú cháu ta cùng binh chủng rồi. Hồi trước chú cũng là giáo viên ở trường 700. Bác Bùi Tùng chính uỷ Lữ đoàn 203, người đã bắt Dương Văn Minh đọc bản tuyên bố đầu hàng trước đài phát thanh Sài Gòn năm 1975 cũng từng làm hiệu phó ở trường đó. Có điều chú đã giải nghệ về quê dạy học từ lâu rồi. Chú sắp nghỉ hưu.

     - Thế thì anh với tôi lại là đồng nghiệp rồi. Người phụ nữ reo lên.

     - Hôm trước tôi đi thăm thằng bạn đồng ngũ mới về hưu, vui bạn quá mà bị trể tàu. Chán thật. Thôi! Bây giờ ta ăn tết trên tàu vậy. Dù sao về nhà đón xuân thì cũng đã muộn mất rồi. Tôi lôi trong cặp ra một tờ báo, mở mấy gói bánh kẹo bày ra.

                                                                      *

                                                                 *        *    

      Mùa xuân không đến muộn với ai bao giờ đâu anh ạ, nếu ta biết chờ đợi nó- Chị mở đầu với cái giọng buồn buồn. Mới gặp anh lần đầu nhưng lại là người lính, đồng đội với cháu và anh ấy, tôi mới kể chuyện này. Anh đừng cười.  

 

      Hồi mới ra trường tôi được điều lên dạy ở một huyện miền núi. Người yêu tôi “chạy” cho tôi về quê nhưng không được. Những năm tám mươi anh còn lạ gì nữa. Đi dạy nhưng phải về xin gạo nhà. Cứ mỗi chiều thứ bảy là “cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ”. Đã một vài lần anh lên thăm tôi nhưng lần nào cũng rền rĩ chê bai cuộc sống nơi khỉ ho cò gáy. Anh nói sống với “mọi” với “ tộc” rồi có ngày thành “mọi” thành “tộc” luôn.  Anh nói nếu không xin chuyển được thì bỏ quách cái nghề bạc bẽo ấy đi, anh sẽ xin cho việc khác. Thú thực tôi không thể bỏ nghề dạy học được. Thứ bảy tôi về gặp anh dưới quê. Hôm ấy dọc đường xe đạp bị hỏng, tôi dắt xe đi bộ năm cây số đường rừng. Trời đã tối người lại mệt nhoài, tôi bị một tay đào vàng cưỡng hiếp. Tôi mang thai anh ạ. Gia đình bảo tôi phải bí mật phá bỏ cái thai ấy đi để cưới chồng. Tôi nghĩ làm như thế là đánh lừa anh ấy, có tội. Tôi thú thật với anh, anh cười gằn: “ Biết đâu là sản phẩm kế hoạch ba của các bố hiệu trưởng trên ấy”. Bố tôi bực mình vì tôi không chịu nghe lời ông. Ông bảo ngày tết muốn đi đâu thì đi, đừng tha cái bụng về làm xấu cả họ. Tôi đành đi tàu vào với chị đầu công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Chuyến tàu hôm ấy cũng vắng khách như bây giờ. Tàu mồng một tết là dành cho những người về phép muộn. Một người lính từ biên giới về, anh mua được cả cành đào Nhật Tân từ Hà Nội. Lần này anh về phép để làm lễ chạm ngõ người yêu. Vừa qua ga Lệ Sơn tôi bắt đầu chuyển dạ, tôi đau dữ dội. Còn một tháng nữa mới đến ngày sinh. Nói anh đừng cười. Lúc đó tôi chẳng biết xấu hổ là gì nữa. Tôi được dìu vào phòng nhân viên, ai dè đến Minh Lệ thì vỡ nước ối. Người xuống tàu chỉ có vài người, một cụ già và hai em nhỏ. Làm thế nào bây giờ? Người lính lại nhờ hai em mang hộ ba lô rồi đỡ tôi xuống. Mấy nhân viên toa xe giúp tôi chuyển chiếc túi du lịch vào nhà ga. Tôi một mình “vượt cạn” ở phòng đợi tàu. Anh mở ba lô lấy tấm đắp, đắp cho hai mẹ con tôi. Anh bế đứa con còn đỏ hỏn bọc trong chiếc áo K82. Hôm sau chúng tôi đi “tàu chợ” vào Đồng Hới. Anh đưa tôi về nhà anh. ở quê mà tha “phong long” về nhà trong ngày tết là rất kiêng. May thay bố mẹ anh là giáo viên nên ông bà rất thông cảm. Bà đốt cho tôi một chậu than rồi kê cho mẹ con tôi cái chõng lèo trong gian bếp. Hồi đó chưa có điện thoại như bây giờ. Không có cách nào để nhắn với người nhà. Phải ở lại nhà một người xa lạ như thế là một việc làm bất đắc dĩ. Thật là trớ trêu. Anh không biết giải thích sao với cô người yêu, lúc sắp làm lễ hỏi vợ lại đưa về một người đàn bà…Cô ta từ hôn anh ạ. Tôi khóc rấm rứt. Cả cái tết ấy thật buồn. Chỉ vì tôi mà anh đã mất tất cả. Hết tết anh lại đem mẹ con tôi ra quê. Sự việc đã rồi, bố mẹ tôi đành chấp nhận lên báo cáo với phòng giáo dục để làm chế độ nghỉ sinh cho tôi. Ngày làm giấy chứng sinh cho cháu, tôi viết thư ra đơn vị xin anh làm bố đỡ đầu. Tôi nói mẹ con tôi suốt đời không bao giờ quên ơn anh.

 

    - Anh ấy nhận lời chứ?

    - Vâng! Anh nói cứ khai tên anh.

    - Thế rồi anh ấy có trở lại được với cô người yêu không?

    - Không anh ạ. Cô ấy lấy một tay đi Đức. Anh tính thời buổi này nhiều người chạy theo đồng tiền, dũng cảm lắm mới làm người vợ lính. Thiếu thốn trăm bề, cả vật chất lẫn tinh thần.

    - Bây giờ anh ấy xây dựng gia đình rồi chứ?

 

    - Vâng! Cháu đây không phải là con đẻ của anh nhưng là con anh. Chúng tôi có với nhau hai mặt con. Bây giờ cả hai đứa đang học đại học trong thành phố Hồ Chí Minh cả. Anh chuyển công tác vào Nam chúng gần anh hơn. Năm nay anh bận trực tết không về được. Hai mẹ con tôi phải về ngoại thắp hương cho ông bà tổ tiên.

 

     Tàu chạy vào đường sắt số 3 để nhường đường cho tàu hàng vượt trước. Tôi nắm lấy bàn tay chị chỉ về phía cửa toa:

     - Tôi phải xuống đây rồi. Tránh tàu chị có thể đem cháu xuống ga để cho chàng thiếu uý biết nơi mình cất tiếng khóc chào đời.

     - Thôi anh ạ! Cái đó thì đợi lúc nào chồng tôi về. Có dịp cả mấy cha con anh về thăm lại trong ngày sinh nhật của cháu.

     Chiếc điện thoại di động của chàng thiếu uý bỗng vang lên réo rắt. Anh đưa điện thoại lên tai:

     - Vâng! Con đã về tới nhà ga Minh Lệ. Đang tránh tàu

     Rồi anh lại thưa với mẹ:

 

    - Ba bảo chụp lại tấm ảnh nhà ga nơi bắt đầu tình yêu của ba và mẹ.

     Chúng tôi bước xuống sân ga. Những cây bàng trút hết lá đang vươn những cành cây khẳng khiu lên đỡ lấy bầu trời. Một lớp lá chồi non màu tim tím nhú lên chúm chím như bàn tay trẻ con xoè ra đón mùa xuân. Trước cửa nhà ga một băng rôn đỏ “ Mừng Đảng- Mừng xuân- Mừng đất nước đổi mới”. Trong phòng đợi tàu có một cành hoa đào thật đẹp. Những bông hoa nở thắm làm sáng rực cả gian phòng. Tôi đứng nhìn đất trời. Quả là bầu trời này cao rộng lắm.

       Mùa xuân không đến muộn với ai bao giờ.

                                                                                                                               

                                              Vợ cũ

                                                    

      - Con gái chúng mình có bạn trai rồi anh ạ!

      Ngồi sau xe Huệ ôm chặt lấy Cương, cô phả cả hơi rượu vào mang tai Cương. Đã mấy lần Cương loạng choạng tay lái suýt ngã. Đã nói uống in ít thôi. Ra đi, Lương - vợ anh đã dặn đi dặn lại là phải về sớm để đến nhà anh Tân công an xã, nộp đơn đăng ký kết hôn luôn. Huệ tỳ cả cái cằm lên gáy anh. Cái bộ ngực núng nính của cô kỳ mài trên lưng áo anh nghe nhồn nhột:

 

    - Lương chắc đẹp hơn em nhiều anh nhỉ. Ôi sao mà cái mùi mồ hôi anh thơm thơm chi lạ. Mười ba năm rồi mà em có quên được đâu.

    Họ đến bến phà, khách vắng teo. Bóng đèn trên bến hắt  những quầng sáng vàng ệch trong sương mù. Giờ này phà không chạy nữa. Cương đi dọc theo bờ sông để thuê đò, Huệ níu lại:

    - Thôi anh ạ! Ta đến khách sạn Linh Giang. Em đủ tiền bao anh. Mà thôi. Ta đi ra bãi biển cho mát. Anh không thức cùng em một đêm được sao?

 

    Hai người xuống bãi biển Thọ Đơn. Vùng biển này nước sâu nên ít người tắm, nhưng bù lại ở đây có bãi cát trắng như pha lê với rừng dương xanh um. Thôi đành có lỗi với Lương vậy. Dù sao đây cũng là lần cuối cùng họ đi với nhau, anh và Huệ sẽ không còn ràng buộc nhau về mặt  pháp lý. Rồi đây đường ai nấy đi.

                                                        *

*             *

     Thuở ấy Huệ là cô gái đẹp nổi tiếng nhất vùng. Cô thường đi hát, nhảy phục vụ các đám cưới trong làng. Dân làm ruộng mà làn da cứ trắng ngần như trứng gà bóc. Đã thế đôi mắt lá răm lúc nào cũng như cười. Nhiều người không hiểu sao cô chẳng chọn ai mà lại nhận lời anh chàng Cương tóc quăn, râu quai nón. Anh cao to, chắc nịch, đen như người châu Phi.  Cô đến với anh như tìm được điểm tựa của cuộc đời. Ngày Cương và Huệ ra ở riêng, hợp tác xã cấp cho miếng đất trên cánh đồng Lòi. Hai vợ chồng đào đất đá lấp hố bom rồi dựng lên đó ngôi nhà hai gian một chái. Đá sẵn ở động Lòi, tiền vôi vữa, gỗ lạt đã có hai triệu đồng – một chuyến đi trầm may mắn. Những tưởng cuộc sống êm ả thanh bình như thế mãi với đôi vợ chồng trẻ khi họ sinh được cái Thắm, cô con gái đầu lòng. Cuộc sống của làng này bắt đầu sôi lên sùng sục khi có đường điện năm trăm ki- lô- vôn chạy qua. Cả làng có mười lăm hộ nằm trong diện giải toả mặt bằng. Ông Siêng trưởng thôn bứng hàng trăm cây ăn quả về trồng dày đặc trên mảnh vườn đồi nên được đền bù những mười hai triệu.

 

Cô Hường “cụt đọt” sinh ba thị mẹt, có thằng chồng chán đời đi xuất khẩu lao động lấy vợ bên Tây. Mấy năm nay không biết “có hơi trai”sao mà người cô cứ phây phây. Cô khôn ngoan, biết sử dụng cái “ tài sản cố định” ấy một cách triệt để. Cô mồi chài được lão Đàn trưởng ban đền bù. Lão cho cô tiền làm lại ngôi nhà rồi xây thêm hàng rào, công trình phụ hết chục triệu bạc. Ngày đoàn khảo sát đền bù đến, họ chỉ căn cứ vào tài sản trên ô đất giải toả. Có sự sắp xếp, bật đèn xanh của Đàn, Hường được đền bù năm chục triệu. Thiên hạ quá hời làm Hụê tối sẫm mặt mày, cô thấy mình là kẻ thua thiệt, (mặc dù hồi đó được đền bù  ba triệu đồng đã là lớn lắm rồi). Cương bằng lòng lấy tiền về xây nhà trên đất vườn thừa của ông bà ngoại cái Thắm. Dù sao số tiền ấy cũng đủ làm ngôi nhà ngói ba gian.

 

Đối với Huệ thì cô không chịu dừng lại đó. Cái khát vọng giàu sang trong lòng cô vẫn âm ỉ cháy.

 

    Ngày đội công trình về đổ móng các cột điện trên cánh đồng làng, thanh niên trong làng đổ xô đi làm công. Dạo đó Cương đi rừng vắng, Huệ ở nhà cặp bồ, ngủ với một công nhân cột điện để đổi lấy một tạ xi măng. Những gã đàn ông thèm của lạ thay nhau mò đến. Cái vẻ đẹp quyến rũ của gái một con thật hấp dẫn. Họ nói bên trong lớp vải là một thân hình có ba số đo đạt chuẩn của cuộc thi hoa hậu quốc gia.

 

    Đi “cội” về, bán xong hàng  là Cương  bảo Huệ đóng cùi đủ ba mươi ngày để đi chuyến khác. Ngày lên đường, cả bốn anh em trong “xâu” làm một bữa nhậu thật linh đình tại nhà anh. Anh giả vờ say rồi bắt Huệ đèo anh lên tận sân ga. Vào tới ga Ngân Sơn, Cương nhảy  tàu hàng quay ngược trở lại. Anh trèo lên gác nằm im thin thít. Mới chập tối một thằng lõi con đã mò tới. Hắn xoè nắm bạc vừa tạm ứng tiền công hồi chiều rồi ôm lấy Huệ, đổ ập xuống giường, chẳng kịp tắt đèn. Cương giận điên người. Anh sôi máu lên, lao xuống, vặn chéo tay hắn ra đằng sau và kéo tuồn tuột đến cột nhà. Anh định trói cả đôi vào cột nhà để xử tội nhưng nhìn thấy tấm thân ngà ngọc của Huệ rờ rỡ dưới ánh điện anh không nỡ. Phí cả một đời. Cương lấy cái lốp xe đạp đã chuẩn bị sẵn rồi châm lửa đốt. Anh nướng cái “của quý” ấy của hắn làm  cháy xèo xèo, khét lẹt. Hắn giãy giụa, la hét hơn cha chết, mẹ chết. Khi ông bà ngoại cái Thắm chạy sang thì thằng lõi đã chết giấc. Hắn sợ quá, vãi nước đái ra cả nền nhà. Sau cái lần ấy thằng chọi sinh tật, phải nằm viện mất ba tháng, Cương cũng mang cái án ba tháng tù treo. Huệ xấu hổ bỏ nhà đi Nam. Lòng anh rối bời bời, cái cảm giác vừa giận vừa thương, lòng thù hận pha  lẫn sự tiếc nuối. Cũng chỉ tại cái số anh nghèo. Vợ anh tham giàu cho bằng thiên bằng hạ. Nằm trong nhà nhìn đồ dùng gì cũng có hình bóng của cô, nhiều đêm anh nhớ Huệ không chịu nổi. Anh đành dắt con lên ở với ông bà nội.

    

Những tháng ngày đó Cương sống bất cần đời. Chỉ cần một chén rượu là anh đã liêu xiêu, rền rền cái giọng của người say. Anh kết bạn với thanh niên xóm Linh Sơn ở xã trên làm nghề sơn tràng. Có khi anh ở lại trên rừng cả tháng.

 

     Huệ về làng dắt theo một gã trai tơ. Nghe nói ngày mới vào Đà Nẵng cô hát chạy xô cho các nhà hàng. Một thanh niên chưa vợ tên là Bình cứ bám riết lấy cô. Cô nói cô đã có con rồi nhưng gã không tin.

     

 Đi rừng về Cương xuống nhà ngay. Khi anh đến thì Huệ và Bình cũng vừa đi tàu Thống Nhất buổi sáng. Thế là Huệ đã có chồng. Lúc ấy Cương mới chịu đi lấy vợ. Lũ bạn sơn tràng làm mối cho Cương cô hàng xén đã lỡ thì. Cương đem con bé về ở với vợ chồng anh trên xóm Linh Sơn. Thời gian nguôi ngoai, rồi đến lượt Lương cũng sinh được một thằng cu. Đã mấy lần Lương giục anh nhắn tin trên đài để Huệ về làm thủ tục li hôn nhưng anh không nỡ. Anh mơ hồ rồi sẽ có một ngày Huệ nghĩ lại.

 

      Khi con bé Thắm học đến lớp bốn, Hụê về lại lần thứ hai. Huệ đến Linh Sơn thăm con. Cương đi rừng vắng, Lương cho Huệ đem con bé vào Nam. Cô nghĩ như thế là  hết lý do để Huệ đến gặp anh. Về không thấy mặt con anh buồn lắm...

 

     Lần này Huệ định mở nhà hàng ở ngay trung tâm thành phố.

     Huệ không thể xin giấy tạm trú tạm vắng mãi được. Muốn đăng ký kinh doanh thì phải có hộ khẩu nơi cư trú. Cô về hôm trước là hôm sau nhờ con em hẹn Cương đến quán bà Năm. Huệ đẫy đà lên nhiều. Cái vòng eo đã tăng chỉ số. Với bộ cánh mô đen, giày cao gót, cặp kính nâu gọng vàng nom cô như một ký giả. Hôm sau Huệ đến gặp Lương, cô xin phép cho anh đưa cô đến nộp đơn li hôn ở toà án nhân dân huyện để thuận lợi cho việc đăng ký kết hôn của cả hai bên. Mãi tới bây giờ Lương mới có dịp ngắm nhìn kỹ Huệ. Lương choáng ngợp trước vẻ đẹp lộng lẫy quý phái của cô. Họ cắp nhau đi mà trong lòng cô thấy lo lo.

 

                                                            *

                                                    *             *                                                                                                                                        

   -  Vâng! Vâng! Em nghe đây. Em đang ở nhà ông bà nội cái Thắm. Em vẫn chưa gặp Cương. Nghe ông cụ nói anh ấy không chịu ký đơn. Sao? Anh nói cứ bồi thường cho anh ấy một cây ạ. Tiền em đâu còn nhiều. Em ngồi với ai à? Gái già như em thì ai thèm để ý. Anh gặp ông cụ tý nhá! Huệ trao điện thoại cho Cương. 

   - Vâng! Tôi là bố của thằng Cương đây! Anh giàu thế? Chữ ký của nó mà đáng giá một cây vàng cơ à? Về mặt pháp lý thì con Huệ vẫn là vợ của nó đấy. Thôi chúc anh ngủ ngon!

 

   Trời dần sáng. Biển rộng dài vẫn thế. Thả tầm mắt kéo đến tận chân trời một không gian màu xanh ngút ngát. Biển xôn xao những con sóng bình yên. Rừng dương hát bài ca ngàn năm của gió. Họ đã thức trọn đêm nay để sống lại thời tuổi trẻ. Cương nói: “Ngày ấy lẽ ra …”. Huệ tựa vai Cương nhìn theo những ngọn đèn chấp chới đang nhạt nhoà trên sóng. Bây giờ họ cùng có chung một nỗi khát vọng làm con sóng xô bờ. Trước khi bay lên bầu trời, họ quay người ngoái lại nhìn mặt đất phía sau lưng. Ôi thôi! - Cô kêu lên thảng thốt:

 

   - Quần áo của em đâu rồi.  Cả cái xe máy nữa. Cái xe máy dựng ở gốc phi lao.

    Thật là dở khóc dở cười. Chẳng lẽ người ngợm thế này lại đi báo công an. Thế là họ hoà vào dòng người đi bộ tập thể dục buổi sáng, gần trưa mới về đến bến phà. Khi đi qua thị trấn, người lớn, trẻ con qua đường giơ tay chỉ trỏ: “Cô người mẫu đi với ông Tây đen. Họ đi dã ngoại mà sao trên người chỉ mặc độc một chiếc quần đùi với manh áo lót”.

 

    Ngày hôm sau ở chợ Linh Sơn thiên hạ được nghe bài cải lương của cô hàng xén:

  - Mả cha cái con đĩ Huệ. Mi ở mô về mà đến cướp chồng bà. Vợ chồng bà đang yên đang lành mi lại nhảy xộc vô. Làm đĩ bốn phương cũng phải để một phương mà lấy chồng với chứ…

    Chuyến về quê tai tiếng  chắc cũng đã bay đến tai Bình. Bây giờ cô đã có tất cả những cái mà ngày xưa cô hằng mong ước. Nhà cao cửa rộng. Tài sản của cô gấp mấy lần của ông Siêng trưởng thôn cộng với cái cô Hường cụt đọt. Nhưng nỗi ức tắc, buồn phiền cứ bám riết lấy cô, cô không sao lý giải nổi. Một cảm giác mơ hồ, sợ hãi, chán chường. Cô thấy tuyệt vọng, cô đơn. Có lẽ cô đã đánh mất cái quý giá nhất mà ông trời ban tặng. ở tuổi bốn mươi Huệ mới nhận ra được điều ấy.

 

    Hôm sau cô đóng nhà kín mít, viết một chúc thư. Cô cầu mong cho hai người sống hạnh phúc rồi uống một lúc hai chục viên thuốc ngủ. Cô gối đầu trên chiếc gối đôi trắng tinh thêu cặp chim câu đang mớm mồi cho nhau. Đôi chim câu nằm trọn trong trái tim hồng thêu lồng hai chữ H-C. Thật lạ kỳ, hai con mắt của cô vẫn còn mở tròn xoe ngơ ngác. Đôi lông mày cong cong hình dấu hỏi. Những giọt nước mắt cô chảy thành dòng tràn qua cái bờ cổ trắng nõn nà. Nước mắt ướt đầm đìa cả gối. Chiếc gối mà gần hai chục năm trước cô đã tỉ mẫn  ngồi thêu.

 

    Sau cái chết của Huệ, người ta thường kháo nhau ngoài nghĩa địa đồng Chăm ban đêm văng vẳng tiếng khóc hờ. Người ta còn nói vào những đêm trăng rằm vẫn thấy bóng một ông Tây đen với cô người mẫu đứng tựa vai nhau nhìn về phía biển. 

                                                                                                  

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Đường Văn
  •   NGƯỜI EM DÂU ÁP ÚT
  •   Tìm lại trăng rằm xưa
  •   CHUYỆN TÌNH MÙA DỊCH “CÚM A”
  •   Người cõi âm- phần cuối
  •   Người cõi âm- chương 10
  •   Người cõi âm- chương 9
  •   Người cõi âm- chương 8
  •   Người cõi âm- chương 7
  •   Người cõi âm- chương 6
  •   Người cõi âm- chương 5
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net