Tìm kiếm:

Số truy cập: 12193807

 

TRANG CHỦ    DIỄN ĐÀN    GIỚI THIỆU    LIÊN KẾT

 

 

 

SÁCH MỚI ĐƯỢC TẶNG

 

- Không thiên vị (thơ Mai Quỳnh Nam- NXB Hội nhà văn 2014)

- Pơ thi (tiểu thuyết của Thu Loan - NXB Đà Năng 2014)

- Thuận chưa hẳn đã lợi (Phạm Khải - cẩm nang dành cho nhà báo trẻ)

- Hạt mầm trót vay (Tập truyện ngắn Trạch An Trần Hữu Hội)

- Tiêu gì cho thời gian để sống (Tản văn của Hoàng Việt Hằng- NXB Trẻ)

- Mưa dắt ngang chiều (thơ Lâm Bằng, NXB Hội nhà văn)

 

Xin trân trọng cảm ơn các tác giả, các đơn vị xuất bản đã gửi tặng sách và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

ĐIỂM

BÁO

Văn nghệ,

Văn nghệ Trẻ

& một số

tạp chí

văn học...

 

 

LĂNG

KÍNH

(phỏng vấn, bình luận tác phẩm của Phong Điệp

PHONG ĐIỆP -SÁNG TÁC MỚI

 

Từ ngày này sang tháng khác, Linh cắm mặt vào chậu than. Nhìn hết lớp than này đến lớp than khác biến thành tro. Linh thấy mình cũng như tàn tro ấy thôi, nhưng vẫn cứ phải cố rực lên mà nhen thêm chút lửa…

(Tàn tro)

 

 

PHONG ĐIỆP - TẠP VĂN

  

NHỮNG DÂU CHẤM LẶNG

 

 

THƯ VIỆN TÁC GIẢ

 

Khi người ta còn biết cô đơn , biết sợ cõi hư vô và biết chết , ngày ấy còn thi ca

 

 

 

 

VĂN HỌC THIẾU NHI

 

 

 

CHÂN

DUNG

NHÀ

VĂN

 

 

“Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Thơ Phùng Quán)

 

Home >> Nội dung website >> KẾT NỐI >> Văn học và nhà trường


VỀ MỘT THI LIỆU TRONG THƠ CA CỔ ĐIỂN DÂN TỘC

 

Trầm Thanh Tuấn

 

GV: Trường THPT Long Hiệp - Huyện Trà Cú - Tỉnh Trà Vinh

 

VỀ  MỘT THI LIỆU TRONG THƠ CA CỔ ĐIỂN DÂN TỘC

 

      Dụng điển là một đặc điểm thi pháp đặc trưng của văn học trung đại. Khi dụng điển người sáng tác thường nhắm tới mục đích lời ít ý nhiều, ngắn gọn, sâu sắc trong biểu đạt nhằm tăng cường sức biểu hiện cũng như mở rộng, đổi mới ý thơ, tạo sự hàm súc cho ngôn từ, chỉ cần đôi ba chữ, điển cố có thể gợi cho người đọc văn bản cả một câu chuyện, một tấm gương, một bài học, một quan niệm nhân sinh. Triệu Dực Thanh (đời Thanh) trong Âu Bắc thi thoại cho rằng: "Chuyện xưa thành điển cố, thì một điển cố đã có một ý rồi. Người làm thơ mượn ý để diễn tả thành tình của mình thì tự nhiên cảm giác càng nhiều gấp đôi" (1). Chim cuốc (chim đổ quyên) cũng là một điển cố, thi lệu quen thuộc của văn học cổ điển Việt Nam.

 

1. Tiếng cuốc - Cảm thức về thời gian:

 

      Tiếng cuốc khắc khoải, trước hết, thường được sử  dụng như một dấu hiệu báo thời gian. Đọc Mộ xuân tức sự, một bài thơ đặc sắc viết về làng quê của Nguyễn Trãi, ta sẽ có những ấn tượng khó quên khi lắng nghe tiếng cuốc vang lên trong không khí tĩnh lặng của đất trời cuối xuân. Tiếng cuốc như gọi một cơn  mưa ấm, giục hoa xuân nở và mang lại những rung động trong tâm hồn thi nhân:

 

                 Nhàn trung tận nhật bế thư trai

                 Môn ngoại toàn vô  tục khách lai.

                 Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lão

                 Nhất  đình sơ vũ luyện hoa khai

       

    (Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn- Khách tục không ai bén mãng gần - Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn - Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan.)

         Tiếng cuốc báo hiệu mùa xuân sắp qua đi, mùa hè sắp tới. Nó là tiếng kêu vang lên giữa ranh giới giao thoa của hai mùa. Tiếng cuốc như giục xuân già đi (xuân hướng lão) và thiên nhiên cũng vận động chuyển mình. Bởi "suốt ngày nhà nhã khép phòng văn" nên tác giả chỉ có thể cảm nhận được những đổi thay của không gian, thời gian bằng thính giác rồi chuyển hoá thành cảm thức. Phải tinh tế biết bao mới lắng nghe được bước chân thời gian đồng điệu với tiếng cuốc gọi hè về. Đến đây đọc lại bài Sơn trung của Nguyễn Phi Khanh ta càng cảm nhận được nhiều điểm tương đồng với tiếng cuốc trong bài thơ trên:

 

                          Thuỵ tỉnh bất tri xuân tảo vãn

                           Thâm sơn  để đáo đỗ quyên thanh

(Tỉnh dậy không hay xuân sớm muộn - Trong rừng có tiếng đỗ quyên kêu.)

 

      Thi nhân đang chìm đắm trong giấc  xuân mơ màng, thời gian như tĩnh tại trong tâm thức làm cho thi nhân không xác định được thời gian đang hiện hữu. Cái cảm giác mơ màng phần nào cũng do bởi đây là khoảnh khắc giao mùa cuối xuân- đầu hạ. Chỉ chực tiếng cuốc từ chốn xa vang vọng lại kéo thi nhân trở về thực tại. Rõ ràng buổi sớm cuối xuân đến với nhà thơ, không hình không ảnh, chỉ có những âm thanh đặc trưng là tín hiệu cho biết đã vào thời khắc xuân vãn: tiếng cuốc.

 

      Trong chùm thơ ba bài Lại vịnh nắng mùa hè của các nhà thơ thời Hồng Đức trong Hồng Đức quốc âm thi tập, tiếng cuốc lại được so sánh với tiếng mõ hoà điệu cùng tiếng "cầm ve" khắc khoải trong dòng chảy vô thuỷ vô chung của thời gian:

 

            Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc

             Ve ve, ve lại gảy cầm ve.

Hay:

              Tường nọ  nhặt khoan vang tiếng cuốc

              Cành kia dắng dỏi gảy cầm ve

                                 (Vịnh cảnh mùa hè)

              Khắc khoải  đã đau lòng cái cuốc

              băn khoăn them tức ngực con ve

                                 (Lại vịnh cảnh mùa hè)

 

      Thiên tài Nguyễn Du có những câu thơ miêu tả mùa vào loại đặc sắc nhất của nền thơ ca cổ điển sân tộc. Trong số đó, người đọc thật khó quên được hai câu thơ tả mùa hè độc đáo với sắc đỏ rực rỡ của hoa lựu và tiếng cuốc thao thức canh trường:

 

                        Dưới trăng quyên  đã gọi hè

                        Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông

 

      Tiếng cuốc gọi hè vang lên, thời gian chuyển mình trong cái thanh âm khắc khoải, khoan nhặt, cả vũ trụ, thiên nhiên cũng có sự thay đổi đồng điệu. Trong Truyện Kiều hơn một lần Nguyễn Du đã sử dụng tiếng chim cuốc thể hiện mùa hè:

 

                        Buồn trông phong cảnh quê  người

                        Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa

        Từ những dấu hiệu tiếng cuốc được nâng lên thành hình ảnh biểu trưng của  mùa hè. Trong Chinh Phụ Ngâm khúc tiếng cuốc được nâng lên thành biểu tượng của mùa hè:

                        Thuở  lâm hành oanh chưa bén liễu

                        Hỏi ngày về  ước nẻo quyên ca.

                        Nay quyên  đã giục oanh già

                        Ý nhi lại hót trước nhà líu lo.

 

     Đoạn thơ không xuất hiện một từ chỉ thời gian nhưng ta  vẫn cảm thấy thời gian cứ trôi chảy tuần hoàn. Bởi trong đoạn thơ chứa đựng những biểu tượng của thời gian: Chim oanh: mùa xuân, chim quyên: mùa hè, ý nhi (chim én): mùa thu. Như vậy hình ảnh chim quyên đã được khái quát lên thành biểu tượng của mùa hè.

 

     Bên cạnh đó, tiếng cuốc trong đoạn thơ này nó lại mang âm điệu của một tiếng reo vui (quyên ca) một khúc hát ca ngợi hạnh phúc của lứa đôi sum họp khi người chinh phụ nhớ đến lời hẹn ước và khao khát mong đợi ngày người chồng đi chinh chiến xa xôi trở về. Tiếc rằng, oanh đã già, ý nhi đã về, thu đã sang mà người chồng vẫn mịt mù bóng chim tăm cá.

 

2. Tiếng cuốc - nỗi niềm thời thế

 

      Bên cạnh việc vận dụng hình ảnh chim đỗ quyên với tư cách là một thi liệu, nhà thơ xưa còn vận dụng điển cố chim đỗ quyên để thể hiện nỗi niềm thời thế.

 

      Có  thể nói dụng điển là một trong những đặc điểm thi pháp đặc trưng trong văn chương cổ điển. Điển cố chim đỗ quyên được ghi nhận trong nhiều tài liệu. Theo Hoa dương quốc chí chú: Cuối đời nhà Chu, vua nước Thục là Đỗ Vũ tự xưng là Vọng Đế, sau nhường ngôi cho viên tướng tên là Khai Minh rồi đi ở ẩn ở Tây Sơn, bấy giờ gặp tuần chim tử quy hót nhân đó gọi là chim Đỗ Vũ, Thục Đế, hay Vọng Đế. Trong Thành đô ký thì chú: Hồn Vọng Đế chết hoá chim đỗ quyên. Còn ở Hoàn vũ ký thì lại giải thích như sau: Vua nước Thục nhường ngôi cho anh tướng tên là Tử Chi, sau nó làm ngặt không phát lương cho mà ăn sau tức tưởi chết hoá ra chim đỗ quyên.

 

      Chim đỗ quyên kêu "Thục quốc, Thục quốc", tiếng kêu thê thiết mang nỗi đau mất nước của vua Thục Đế đã đi vào thơ của các thi nhân Việt Nam thời trung đại như biểu trưng cho nỗi niềm thời thế.

 

         Tiếng cuốc thể hiện một nỗi niềm đau đớn trước vận nước đang suy vi. Không phải ngẫu nhiên mà thơ ca thời Vãn Trần lại xuất hiện nhiều tiếng cuốc đến vậy. Nhất là trong thơ của Nguyễn Phi Khanh - Một nhà nho nặng nợ với đất nước. Cái hào khí Đông A đã đi vào quá vãng, hiện thực là một triều Trần đang trên đường mạt vận. Đau nỗi đau đời Nguyễn Phi Khanh gởi gắm tâm sự của mình trong tiếng cuốc đêm cuối xuân trong bài Thiên Trường Chu Trung:

 

                        Xuân phong bất giải câm sầu tứ.

                        Khước phóng quyên thanh cánh ngạn đề

(Gió xuân cái buồn không xua được - Còn xui tiếng cuốc vọng về  đây)

 

    Cùng với nỗi niềm nước non này mà quan tư đồ Trần Nguyên Đán cũng đã thể hiện sự đau đáu trong bài Quân trung tác

                              Tam xuân đề huyết quyên thanh đoạn

                              Vạn lý quy tâm quế ảnh cô

 

        (Ba xuân rỏ máu tiếng quyên đã dứt -  Muôn dặm lòng về bóng trăng lẻ loi.)

    Bùi Huy Bích trước những thăng trầm biến động lớn lao của xã hội thời Lê Trịnh, bất lực trước vận nước ngã nghiêng, ông cũng gởi gắm tâm sự của mình vào tiếng đỗ quyên da diết giữa đêm vắng trong bài Dạ toạ thính đỗ quyên

                        Thế  đồ khuynh trắc môn phong bạc

                        Độc toạ nghiêm canh thính đỗ quyên.

      (Đường đời nghiêng ngã nhà thơ bạc - Đêm vắng ngồi nghe tiếng đỗ quyên).

      Tiếng cuốc còn là tiếng kêu hoài vọng về  một triều đại vàng son đã đi qua. Trần Danh Án, một cựu thần của triều Lê Mạt đã viết những câu thơ sau:

                      Giá  cô minh gia gia

                      Đỗ quyên minh quốc quốc

                      Vi cầm, thượng  hữu  "quốc", "gia", thanh

                      Cô  thần đối thử tình nan cực

 

      (Con gà gô kêu gia gia - Con chim cuốc kêu quốc quốc - Loài chim nhỏ còn có tiếng kêu quốc quốc, gia gia - Kẻ bầy tôi cô đơn lạc loài đối với sự tình ấy đau lòng khôn xiết)

      Bài thơ là sự chua xót đắng cay của một người tôi trung, mất vua mất nước. Loài chim nhỏ  kia (chim cuốc, gà gô) còn biết kêu lên những tiếng "nước", "nhà" còn kẻ bầy tôi này với sức yếu thế cô chứng kiến cảnh triều đại mình phụng sự suy vong thì sao không đau đớn cho được ?

 

      Đọc lại hai câu thơ của bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ  Qua Đèo Ngang ta càng thấm thía:

            Nhớ  nước đau lòng con quốc quốc

            Thương nhà  mỏi miệng cái gia gia

      Khảo sát bốn câu thơ đầu ta chưa thấy xuất hiện những từ diễn tả cụ thể tâm trạng con người. Đến câu thơ này ta bắt gặp "nhớ", "đau lòng", "thương", đấy là những từ thể hiện những cung bậc tình cảm, tiếng cuốc ngân lên trong bài thơ như một nốt trầm của niềm hoài cổ, thi nhân nuối tiết một thời "Hoàng Lê" đã suy tàn trong dòng xoáy ba đào của lịch sử. Đến đây ta lại nhớ đến tiếng chim đỗ quyên trong  một bài thơ Hai-kư của đại thi hào Basô, nhà thơ cổ điển Nhật Bản:

 

             Chim đỗ quyên hót

             ở kinh đô

             mà  nhớ kinh đô (Đoàn Lê Giang dịch)

 

Ở Nhật Bản, chim đỗ quyên còn được gọi là chim hototogisu, còn dược viết bằng chữ Hán là "thời điểu" chim đến theo mùa hay chim thời gian cũng. Đây là hình ảnh xuất hiện nhiều trong thơ Tan-Ka, thơ Hai-Kư.Ở bài thơ trên, tiếng đỗ quyên hót giữa kinh đô ngày nay mà nhớ kinh đô ngày xưa, một kinh đô đầy kĩ niệm đã vĩnh viễn xa rời. Đó là tiếng chim hay tiếng lòng của thi nhân?

 

      Tiếng cuốc- tiếng kêu bi thương của thi nhân trước cảnh đất nước rơi vào tay giặc. Tiếng cuốc trong thơ Nguyễn Khuyến mang nặng nỗi niềm u uất trước vận nước: Đặc biệt, tâm sự này được thể hiện sâu sắc thấm thía trong bài thơ Nôm: Cuốc kêu cảm hứng

 

           Khắc khoải sầu  đưa giọng lửng lơ

            Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ?

            Năm canh máu chảy  đêm hè vắng

            Sầu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.

            Có  phải tiếc xuân mà đứng gọi

            Hay là  nhơ nước vẫn còn nằm mơ?

            Thâu  đêm ròng rã kêu ai đó?

            Giục khách giang hồ  dạ ngẫn ngơ.

 

      Ta nhận thấy tiếng cuốc trong bài thơ này không còn dừng lại ở một hình ảnh khát quát mang tính biểu tượng mà nó đã trở thành đối tượng được mô tả một cách cụ thể, đã trở thành nhân vật trữ tình. Nó mang chiều sâu tâm trạng của con người. Trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam Xuân Diệu đã có một nhận xét hết sức tinh tế về bài thơ này: "chúng ta tưởng nghe da diết chi chiết, một tiếng kêu có máu, tiếng huyết kêu mất nước, nhớ nước!"

 

      Đọc những câu thơ trên nếu không hiểu gì về điển cố thì người đọc phần nào cũng có những rung cảm nhất định bởi tiếng cuốc tự bản thân nó đã có một sức gợi. Tiếng cuốc khắc khoải thê thiết vào những đêm khuya tĩnh mịt đã đánh thức những nỗi niềm non nước sâu kín trong cõi lòng của thi nhân.

 

3.Tiếng cuốc -  nỗi niềm li gia:

 

        Tiếng cuốc vang thanh âm khắc khoải gợi nỗi li gia trong lòng người lữ thứ. Lã  Đường tiên sinh (Thái Thuận) một đêm trên bến La Giang đã chợt dậy lên nỗi niềm cố lý bởi không biết từ đâu đến một tiếng cuốc văng vẳng, một âm thanh duy nhất của bài thơ, không những làm xao động không gian ngoại cảnh mà còn làm  nổi nhớ quê hương trong lòng thi nhân càng thêm da diết. Có thể đó không phải là tiếng cuốc thực, mà nó là tiếng kêu đau đáu vốn hiện hữu trong tâm thức của nhà thơ.

 

        Ngũ  canh dục phóng quy lại mộng

        Hà  xứ nhất thanh đề đỗ quyên.

        (Năm canh muốn thả giấc mộng về nhà - Một tiếng cuốc kêu không biết từ đâu đến)

                     (La Giang Ngẫu thành)

      Hay trong một bài thơ khác Thái Thuận cũng cũng đã viết Cố hương quy khứ phụ đề quyên (Gợi về quê hương cũ, đành phụ lòng con chim cuốc luôn kêu). Như vậy nỗi nhớ mong cố hương trong tâm tư của Lã Đường luôn gắn chặt với tiếng cuốc da diết khắc khoải.

 

      Trên  đường đi xứ sang Trung Quốc, Nguyễn Trung Ngạn vẫn một lòng hướng về đất nước, ông đã diễn tả xúc động nỗi nhớ quê hương thiết tha trong câu thơ:

        Mộng lí hữu hồn tuỳ hoa điệp

        Biên trung vô lệ đáo đỗ quyên

        (Trong mộng đưa hồn theo bướm - Ốm đau khôn khóc lối quyên kêu)

                         (Biên thành xuân vãn giản chư đồng chí) 

         

              Đọc Đường thi, thỉnh thoảng ta cũng bắt gặp tiếng cuốc kêu làm  người lữ thứ đau đớn vì phải sống cảnh tha hương có quê mà chẳng về được:

        Đẵng thị hữu gia quy vị đắc

             Đỗ quyên hữu hướng nhĩ biên đề

                 (Có quê mà chẳng về quê được - Xin cuốc đừng kêu não ruột người)

                                  (Tạp thi – Vô Danh Thị)

             

       Tiếng cuốc dù ở mãng nào là thanh âm của mùa hè, là nỗi niềm thời thế hay nỗi niềm li gia  thì ở đó vẫn đọng lại nhiều bài thơ, câu thơ tuyệt bút. Tiếng cuốc trong thơ ca cổ điển của dân tộc sẽ hãy còn vang vọng mãi bởi vì chính cái âm thanh da diết ấy đã làm nên những phút xao động trong tâm hồn thi nhân và nó đã thăng hoa thành những vần thơ có sức mạnh lay động lòng người.                    

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Văn Chánh -Truyện Kiều tập chú - NXB Đà Nẵng – 1999
  2. Xuân Diệu - Các nhà thơ cổ điển Việt Nam - NXB Đà Nẵng – 1998
  3. Đoàn Ánh Loan, Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, NXB Đại học Quốc gia TPHCM - 2003
  4. Bùi Văn Nguyên (Giới thiệu - chú thích) - Hồng Đức quốc âm thi tập - NXB Văn học - 1982
  5. Trần Đình Sử - Thi pháp Truyện Kiều - NXB Giáo Dục - 2002
  6. Hoàng Hữu Yên -Thơ văn Nguyễn Khuyến - NXB Giáo dục – 1984

 

 

Gửi email trang này cho bạn bè Mở cửa sổ in bài viết này


Văn học và nhà trường ::
  •   Trang Thế Hy: Đại thụ tỏa bóng làng văn 12/11/2014
  •   TRUYỆN KIỀU, phòng thử nghiệm những cách đọc 03/11/2014
  •   Đặng Thai Mai học giả uyên bác, chiến sĩ trên mặt trận lí luận của văn học cách mạng 28/10/2014
  •   Đối thoại liên văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa và vấn đề tiếp nhận lý luận văn học phương Tây ở Việt Nam 26/10/2014
  •   “Tình già” của Phan Khôi là thơ mới? 12/10/2014
  •   Vị thế Phan Khôi trong phong trào Thơ mới nhìn từ thực tại Thơ mới 1932-1945 07/10/2014
  •   Hữu Loan, Đèo Cả 30/09/2014
  •   Nhà văn Nguyễn Tuân 25/09/2014
  •   Thanh Hải, nhà thơ như tôi từng biết 17/08/2014
  •   GIÁ TRỊ THẨM MĨ TRONG TRÍCH ĐOẠN CHỊ EM THÚY KIỀU 15/08/2014
  •  Xem tất cả các tin...

     
     

    Bản quyền 2006 (c) thuộc về PHONGDIEP.NET - Email: webmaster@phongdiep.net